Jul 23, 2015

Tiều tụy vòng quanh

Nhiều năm trước, ở ngay chỗ tôi nhìn người đàn ông cất vó sông, chính ông cất vó khi ấy vẫn trẻ ranh hôi nắng, cũng đang ngó cha mình cất lên một lưới đầm đìa nước.

Đó là một thằng nhỏ háo hức. Không ngóc ngách nào của làng cổ mà nó không thò mắt mó tay vào. Nghe gà gáy, nó biết trúng phóc gà nhà ai, nhìn sợi mưa nó đoán nước sông Châu ngập đến mức nào ở chân cầu, và có bao nhiêu tường vách thâm sì của những ngôi nhà trong làng cổ được rêu lợp kín. “Phải cuối tháng chín rêu mới trổ bông”, đôi khi du khách gặp một thằng nhỏ móc chân treo ngược trên nhánh cây bảo vậy. Rêu thơm dậy động chỉ ít ngày là hết, cậu khoe thêm, thơm tới nỗi ông Út Gù mất ngủ, cả đêm cứ lội bộ lang thang, tru từng chập hệt chó rừng.

Vài cái tên người làng thường xuất hiện ơ hờ trong câu chuyện của thằng nhỏ, như những cái bẫy vô hại. Khách tò mò, lỡ miệng hỏi ai là Út Gù, tức thì thằng nhỏ sẽ làm màn ảo thuật để ông già bên xóm hiện ra. Nó kể vanh vách từ đời bà cố lũy người đàn ông tật nguyền ấy, tên những con chuột ông nuôi bằng thịt mèo, và ý nghĩa của những chữ khắc trên thềm đá trước nhà ông, món cá hũn hĩn kho quéo ưa thích. Như thằng nhỏ đã nuốt trộng cái làng cổ này, giờ ai hỏi tới đâu nó thuộc làu tới đó.

Nhưng với một đứa háo hức tràn ra mắt, không bao giờ nó ngừng thòm thèm, thôi cảm thấy đói ngấu những thứ mới mẻ của cuộc đời.

Khi những mảnh ngói trong làng không còn gợi cái ý nghĩ dưới đó giấu một lá bùa, dưới ngói chỉ là một viên ngói khác, hay miệng giếng này không dẫn đến kho báu mà đến những bó xương gà, thằng nhỏ chạy theo du khách để háo hức trong đó đừng chết đói. Một hướng dẫn viên tận tụy, chẳng bao giờ xòe tay đòi tiền, bù lại, thằng nhỏ biết nước dừa ở Maidives ngọt y như xứ nó, ở Yukon đá bào chất đống ngoài đường, và người da đen máu cũng đỏ như thường. Họ có dình dàng bằng ba người làng bó lại, mắt nâu hay xanh, khi xước da họ cũng nhăn mặt, rớm nước mắt. Và họ luôn luôn vô tình làm thằng nhỏ đau.

- Ở chỗ tao, có cái tháp cao gấp hai chục lần cái gác chuông này.

Giỡn hoài, cái tháp chuông này cao nhứt hạng rồi, thằng nhỏ phải mất nửa tiếng mới trèo lên tới đỉnh tháp. Ở đó có thể nhìn thấy từ đầu đến cuối làng, vượt mắt qua những khu vườn ra tận giữa sông Châu, nơi có vài cù lao hoang tháng chạp bông lau lợp trắng. Nhưng khách chứng minh cái tháp chuông mà thằng nhỏ tôn thờ chỉ là muỗi, khi khoe tấm hình ngọn tháp xứ họ lên đèn ngay bên cạnh trăng sao.

Thằng nhỏ không làm sao hình dung nổi cái thứ cao hơn gấp hai chục lần tháp chuông làng mình. Nằm ngửa, tâm tưởng cậu lấy tháp này chồng lên tháp nọ, nhưng luôn bị mất mối nối giữa chừng. Nó rã rời trong cái ước muốn tận mắt nhìn ngọn tháp ngạo mạn chọc ngoáy vào những bó chớp, như những lần tuyệt vọng muốn sống trong một đêm Bắc Âu trời vẫn sáng trưng, hay nếm thử thứ trà khiến người ta luôn mơ thấy mình bay.

Những lúc đó, thằng nhỏ ra chỗ chân cầu ngồi nhìn cha mình cất vó. Cái bộ điệu lơ tơ mơ khi người đàn ông vươn vai kéo gọng vó lên làm phiền nó hết sức, cả cách ông lơ đãng chẳng thèm dòm ngó đám tôm cá quýnh lên trong lưới. “Phải mình là mình coi có con cá lạ nào lạc vô không”, nhiều lần nó nghĩ vậy. Nhưng cha nó không thèm những tặng vật của dòng sông, mỗi tháng ông nhận được khoản tiền lương cho cộng việc này, vậy là đủ. Cứ mười lăm phút ông cất vó một lần cho du khách đứng coi, chụp hình. Rồi rít một hơi thuốc, ông già buông cái vó cho ngập miệng vào sông, kệ tụi tôm cá trong lưới thong dong đi mất. Thằng nhỏ ngờ là cái tính háo hức của mình chắc là di truyền từ bà mẹ xưa giờ chưa từng thấy mặt. “Nhưng phải có ai đó đẻ mình ra chớ”, nó nghĩ vậy, và bà mẹ tồn tại trong nó bằng cách ấy. Hỏi cha thì ông nói, “đất nẻ đẻ mày”, rồi bỏ ra chòi vó.

Một ngày làm việc của ông kết thúc, khi chuông nhà thờ đổ, và làng mở những bản hòa tấu quen thuộc, thứ nhạc cả chục năm nay không đổi, phảng phất tựa khói nhang.  Cất vó, khép cửa chòi, trên đường về nhà ghé tiệm mua xị rượu, và lấy rượu chườm ướp cho men Xiêm ngấm vô chiêm bao. Thằng nhỏ sinh ra đã thấy nhịp sống tẻ nhạt của cha mình, đến la rầy con cũng chẳng câu nào mới, mười bốn năm trời chỉ ba chữ “đồ con hoang” mà trên miệng ông đã mất dần cái âm sắc nhọn và độ rền của sự giận dữ.

Cậu nhỏ cảm thấy phiền, bởi người cha diễn trò cất vó ngoài sông, bởi dì The hát ầu ơ cho tụi búp bê nằm võng vang cả phố trưa, cũng là diễn cho du khách khúc ca để họ chạnh lòng quay lại chơi ở cái làng nửa thế kỷ trôi qua vẫn cổ. Thằng nhỏ cũng chịu hết xiết người làng cả ngày lơ đãng, kệ khách lại qua trước tiệm lụa nhà mình, nếu không có cái quạt ve vẫy trên tay thì chẳng khác nào tượng đá. Ngay những đứa cùng trang lứa với nó như con Hương cũng tự buộc tuổi mười bốn vào khung dệt chiếu, chắp trân đố có mắc lỗi nào. Những trưa đi theo cái bóng của chính mình dọc theo đường chính của làng, không khí êm đềm đến nỗi thằng nhỏ thở không ra hơi. Nó cảm thấy mình sắp chết tới nơi.

Một bữa, thằng nhỏ nhảy chuyến tàu sớm rời làng. Nó biết chị Cẩm sẽ đứng bên đường ray vẫy tay, như hai chục năm nay sáng nào nghe còi tàu đằng xa chị cũng bổ nhào ra chào người cha đã bỏ đi hồi chị còn ẳm ngửa. Dưới những tia nắng non chiếu xiên, những nhánh tay khô khằng của chị chói lên trong cái chào mà thằng nhỏ tự vơ vào cho mình.

Rồi một xế trưa của mười bốn năm sau, cũng chị Cẩm vẫy đón thằng nhỏ trở về. Chị không già đi mấy, nhưng thằng nhỏ háo hức ngày xưa giờ trở thành một gã đàn ông sạm nắng, áo sứt nút, tóc phủ vành tai, ẳm theo đứa nhỏ nói chưa sõi. Gã không kể mình đã đi đâu làm gì, kể từ biến mất trong toa tàu sáng ấy. May thì lúc say, trong bữa giỗ hay cuộc nhậu xình xang, khi nghe ai đó nhắc tới một thị trấn vùng biên mịt mù, gã buột miệng “chỗ đó thiếu chút nữa là tôi đâm chết con Phấn”. Mọi người đoán Phấn chắc là vợ gã. Nhìn hai trái chanh chai sần trên bàn tay, nghĩ mười mấy năm qua chắc thằng nhỏ chạy xe ôm hay xe tải, xe đò, mấy công việc rày đó mai đây. Thấy sẹo vết chằng chịt khắp người nghĩ gã chắc va chạm nhiều để kiếm miếng ăn. Ngó thằng người thừ lừ ngồi ngoài thềm, ruồi bu không đuổi, mắt đổ ghèn không dụi, biết lòng đã hết háo hức rồi. Giờ trộn gã với người phố cổ, sẽ không dễ nhận ra bởi cái thờ ơ ăn lan trên gương mặt, ánh mắt.

Sáng thứ hai từ buổi đặt chân về làng cổ, gã đi tới nhà chị Cẩm dúi con vô lòng chị, biểu “từ giờ giữ con cho tui”. Chị nói “mười tám phút nữa tàu qua”. Gã dặn “thằng nhỏ ăn gì cũng được, cho húp nước cơm vẫn sống như thường”. Cẩm vuốt mái tóc đứa nhỏ khét nắng, lại nói “cha có nhìn thấy mình không ta ?”. Năm ngoái, có anh lái tàu mủi lòng trước những cái vẫy tay, đã tìm tới và rủ Cẩm đi, nhưng chị nói tàu sắp qua, chị phải vẫy chào cha, đi thì sợ chạy về không kịp.

Tay lái tàu ấy sáng nay chắc vỡ mộng khi thấy chị Cẩm bồng trẻ nít đứng chào bên đường ray. Hình dung đó làm cho cha của đứa nhỏ hài lòng.

Thằng người lừ đừ ra chòi vó, chậm rãi đái một phát như chó đánh dấu lãnh thổ, và nói với ông già, từ giờ chỗ này của tui. Đồ con hoang, ông già chửi, rồi xách chai đong rượu về. Thằng con hút xong điếu thuốc, búng tàn lại sau lưng, hững hờ cất vó, không đếm xỉa coi có gì ngoài rác nằm trong lưới. Sông Châu giờ cũng chảy bâng quơ cho có, nhìn nước bằng mắt thường khó biết được nước xuôi phía nào.

Bóng in mặt sông, gã đốt điếu thuốc mới, nhả ra mớ khói lờ đờ như hút thuốc cũng là một phần của hợp đồng công việc. Từ giờ gã bắt đầu đi vào những khung hình, trở thành nhân vật chính trong những bức ảnh mang tên “yên ả”, “thanh bình” hay “cất vó” (mặc dù trong ảnh cũng rành rành là cất vó).

Và tôi, đứa con trai được ba mình mang về từ chân trời, được má Cẩm gói giấc ngủ vô cánh tay xương xẩu, tuổi mười ba rún đã bắt đầu thốn đau bởi tiếng còi tàu, nhìn nước ròng ròng chảy xuống lưới vó, nghĩ, rốt cuộc cái làng này còn cầm tù mình bao lâu nữa ?

Jun 11, 2015

Khách

Khách

Có vài cuộc gọi về nhà kết thúc sớm hơn, mẹ có khách. Tụi nhỏ không phiền vì ngưng chuyện giữa chừng, lại mừng. Nghĩ khách tới chơi nghĩa là đời sống của mẹ ở quê không đến nỗi quạnh hiu, vắng con nhưng mẹ vẫn có nhiều niềm vui khác. Ý nghĩ đó làm cho những đứa nhỏ xa nhà thấy nhẹ lòng, giờ này mình thì tiệc tùng vầy, còn mẹ chỉ mình ên.

Hồi tụi nó còn ở nhà, mẹ cũng nhiều khách tới thăm. Một mình gánh ba con, nhưng người đàn bà góa chồng chẳng cách nào làm cho duyên đừng sóng sánh trong đi đứng, nói cười. Khí chất đã vậy, mặt nám tay chai cũng không ngăn nỗi đàn ông theo đuổi. Có ông thầy giáo hay ghé nhà, nhẹ tựa mưa. Tròng trành ngồi bên thềm ướt, nói chuyện ba khơi kiểu như Sáu ơi, ngoài vườn măng chắc sắp mọc rồi, mà không hiểu sao nước sông mấy bữa nay đục quá. Lại có ông thợ rèn, tóc tai bốc khói như đá trời vừa ngùn ngụt đi qua khí quyển trái đất. Không nói, chỉ nhìn, cái nhìn như hóa lỏng người đàn bà mà ông thầm yêu. Một ông khác thì xộc vào tận bếp, thay bóng đèn, đóng lại bản lề cánh cửa. Ông này thẳng đuột, bảo Sáu ưng tôi đi, còn trẻ ở không chi cho phí. Lại có ông chống nạnh đứng ngoài sân, nói tụi mình bạn bè từ hồi ở truồng tắm mưa, tánh nết đã thuộc lòng, Sáu mà đi thêm bước nữa thì lấy tui cho đỡ mất công tìm hiểu.

Mẹ được nhiều người mê, tụi nhỏ cũng hưởng lợi. Khách hay mang bánh kẹo, không thì cũng mấy trái mận, trái xoài. Ăn của người ta mà không giúp cũng kỳ, nhưng tụi nhỏ cứ khen ông nào hay thì mẹ cũng gạt đi, mùa này xơ ri chín rộ phải hái cho kịp, mương vườn cạn phơi đáy phải đào, đậu rồng đâm ngọn phải làm giàn cho chúng, nói chung là lu bu lắm, đâu rảnh. Lần hồi, cho đến bữa đứa con nhỏ nhất đón xe đò khăn gói xa nhà, mẹ vẫn một mình. Nhìn vào kiếng chiếu hậu, là mẹ đứng sau đám bụi, chấm áo tím trên nền xanh gờn gợn.

May mà mẹ vẫn có khách tới chơi, tụi nhỏ hài lòng. Những người sớt bớt nỗi cô độc của mẹ, chắc là mấy thím bên xóm hay để lại dấu răng trên những câu chuyện dông dài ai đó chửa hoang ai đó bỏ vợ theo trai, ai đó vừa sinh bảy. Họ hàng từ xa xôi cũng đổ lại, ngồi kiểm đếm coi chế ba chú bảy ai mất ai còn. Mà biết đâu, mẹ vẫn còn nhiều ông mê lắm.

Một bữa tụi nhỏ về, chứng kiến mẹ dưng không ới lên rồi te te đi mở cỗng. Khách của mẹ là ba con vịt xiêm, bộ điệu khệnh khạng xem chừng ghé chơi thường lắm. Ăn xong mớ đầu tép mẹ dành cho, bọn nó lại hể hả ngoáy đuôi ra về.

Khách của mẹ còn có con mèo mướp, thường xuất hiện bất ngờ với cái bụng chửa, rồi một bữa biến mất chẳng rõ đi đâu. Lá khô thì táo bạo hơn, xộc vào đến tận góc buồng ngủ, chỗ mấy con dế thường đến gáy. Và mưa đêm, luôn để lại những dấu chân trong suốt ngoài thềm.

Những người bạn láng giềng của mẹ lớp bán nhà dời đi chỗ khác, lớp nằm đau. Xóm ngoại ô chóng mặt với những hàng quán mọc lên, những giọng nói vùng miền xa lạ khác. Người thì đông hơn, nhưng không hẳn vui hơn. Tiếng cỗng đóng rền rĩ vào mỗi sáng. Nhà mẹ vắng dần tiếng người và mặt cười.

Hỏi sao không thấy mấy ông mê mẹ, bà nhẩm đếm hao hụt hơn một nữa rồi. Ông thì đột quỵ, ông thì ôm trong bụng khối u (phải ôm một khối tình, cũng đỡ). Còn mỗi ông thợ rèn mạnh giỏi, vừa rồi có ghé nhà, vẫn bốc khói như rớt xuống từ trời. Gặp mẹ, ông hỏi cô Sáu có nhà không, nói một hồi mới tin người muốn tìm đang ở trước mặt. Từ bữa tới giờ không thấy quay lại nữa, chắc đang tiếc đôi cánh đã cháy rụi trong lúc bay đi gặp người xưa. Cánh không còn để trở về trời, mà chỉ gặp mỗi một bà già teo héo.

Vừa kể mẹ vừa đi rửa mấy cái ly đầy bụi, rót nước râu bắp bưng cho tụi nhỏ. Phổi của những đứa con như cứng lại, thấy khó thở với cái cách mẹ đặt ly xuống bàn, xua tụi nó uống đi nước mát lắm, cách mẹ vừa lau mặt bàn vừa phân trần như một thói quen, có một mình nên nhà cửa cứ tèm lem, bỏ qua nghen.


Tụi nó, giờ làm khách của mẹ mình.

Apr 19, 2015

Dây diều

Chỉ ba mươi giây là mình chạy khỏi đồng diều, Trọng nghĩ vậy, nghe dòng mồ hôi trườn chậm rãi men theo sóng lưng xuống xương cụt. Rủi gặp bầy bò ăn rong dềnh dạng trên đường, nhiều lắm là vài phút chiếc xe máy cũng bỏ chỗ ấy lại phía sau. Vậy là xong, như chưa từng xảy ra chuyện gì.

Lúc đó thiệp cưới đã gửi đi gần hết, Trọng về Vĩnh Hòa để đưa cho bà con bên ngoại mấy cái thiệp còn sót lại. Không có đường nào khác đi Vĩnh Hòa ngoài con lộ ngang qua đồng diều. Không ai thay Trọng mang xấp giấy báo cưới này đi, và cũng chẳng còn bao nhiêu thời gian cho nó trì hoãn, “để mai”.

Qua khỏi khu vườn chùa là tới bãi cát của một dự án đô thị bỏ hoang. Mùa hè cư dân thành phố đổ ra ngửa cổ, vô vọng kết nối con diều với bầu trời bằng một sợi dây. Giờ gió thổi phồng áo Trọng. Gió đến ngộp thở. Gió như bữa Trọng hít hà da thịt Lê trên cỏ rạ đồng diều.

Hôm đó, lúc ra về Lê nói, mình cưới nhau đi.

Hai đứa tới nhà nhau thường hơn, gặp sớm mai đã hẹn nhau tối lại. Lê nuông chiều Trọng hơn, có bữa lén cho bồ vào buồng riêng chút cha chút chít, thay vì phải véo mông hớt hãi sau bếp những lúc mẹ Lê ra sân đuổi đám con nít vặt sen. Câu chuyện của hai đứa giờ xuôi về chủ đề xốn xang. Chụp ảnh cưới ở đâu, áo cưới màu gì thì lên ảnh đẹp, tiệc cưới có cắt bánh kem không hay chỉ rót rượu hồng lên tháp ly sương khói.

Như chưa từng xảy ra chuyện gì.

Vài lần phải ngang qua những cửa hàng bán diều treo tràn ra vỉa hè, Lê thường bô lô gợi chuyện, những chuyện tếu kiểu như  ông kia ngoắc chiếc xuồng bán bánh mì bên kia sông, người ta mừng quýnh càn nước ngược chèo qua, ổng hỏi có thấy xuồng bánh bao đâu không. Mắc cười hén ? Ừ, mắc cười. Cũng có hôm hết chuyện vui để kể, Lê thuật lại nội dung tập phim Thái chiếu hồi tối vừa rồi, quên mất Trọng cũng có coi chung.

Như chưa từng xảy ra chuyện gì.

Trọng bắt đầu diện những bộ thật bảnh. Kiểu gì cũng phải đẹp. Áo hơi nhàu là thấy day dứt trước Lê rồi. Không như cái hồi mới quen, chỉ dép kẹp quần đùi chở Lê đi ăn chè, giờ phẳng phiu đến từng sợi tóc. Có bữa đi gần tới đầu hẻm nhà Lê, sực nhớ đầu quên chải keo nó quay xe lại. Nhiều khi người bên nhà Lê ngờ Trọng chắc bị sảng, mưa gió ngập đường mà nó đóng giày da, mỗi bước nước mỗi trào ra. Những ai từng quen biết một thằng Trọng buông tuồng cẩu thả đều kêu đám cưới thiệt thần kỳ, vừa dự tính thôi đã ngay lập tức thay đổi một con người. Trọng cười nhợt nhạt, thấy tuyệt vọng vì mình không thể đẹp hơn. Nó sợ nhìn thấy hình mình in trong mắt Lê rúm ró.

Trong khoảng thời gian hai đứa mặn nồng đến nghẹt thở đó, có một lần Trọng nổi khùng, đá cái ghế bật ngửa, bỏ đi. Lý do nó giận cũng không giống lý do, dưới gầm trời này chẳng ai quạu chỉ vì bồ bịch sớt cho mình mớ hột vịt muối của phần cháo trắng ăn khuya. Cả nhà Trọng quý Lê, nên lèo nhèo, “đốt đèn cũng không kiếm ra đứa nào tốt cỡ con Lê, mê mày như mắc nợ vậy, ăn cơm cũng lựa cho từng miếng cá”. Yêu là yêu sao có thể là mắc nợ, Trọng nghĩ bụng vậy nhưng lừ lừ không nói, ngồi lì chơi điện tử. Chiếc xe Trọng điều khiển như tự sát, cứ lao xuống vực sâu.

Và chiếc xe lại hồi sinh ở vạch xuất phát trong một màn chơi mới. Giống hệt chuyện xảy ra ở đồng diều mà Trọng với Lê đều (làm như) quên. Nhưng đêm ấy thường trở lại, với ánh trăng chưa đến rằm nhưng vẫn đủ sáng dãi dề trên bụng Lê khi gió thổi lật vạt áo con nhỏ lên, làm thằng bồ khổ sở kiềm giữ cơn bứt rứt chết được. Lúc đó đồng diều vắng tanh, người ta đã cuốn dây bỏ về lâu rồi. Hai đứa nán lại ôm nhau chút chít thêm ở giữa trăng sao và cỏ rạ. Đột ngột không thấy trăng đâu, trời tối sầm bởi năm cái đầu chụm lại dòm đôi bồ lom lom. Một thằng rọi đèn pin vô mặt Lê kêu :

- Ê, con nhỏ ngon quá tụi bây !

Giọng thằng cầm đèn hụt hơi, tê mê, hệt như người đói khát nói về chim cút khìa nước dừa, hay cải ngồng xào tỏi hay tôm càng nướng trên than đỏ. Chỉ cần cắn ngập dấu răng vào da thịt kia, những gì thơm ngọt nhất sẽ ứa tươm môi. Những thằng còn lại cũng hết sức đồng tình, ờ, em cưng thơm phức.

Nhưng Lê không bị bọn du côn cắn miếng nào, cả chạm vào cũng không. Chúng giữ lời hứa với Trọng, sau khi dạng háng cho Trọng luồn qua. Những cái quần lưng sệ đáy thấp đến mức Trọng gần như trườn sát đất dưới từng thằng người khai khẳng mùi bia mùi nước tiểu mùi loăng quăng. Cỏ đâm vào cổ, cát chảy vào trong áo. Không thằng du côn nào cười cợt, tụi nó đạo mạo như dự một nghi lễ quỷ thần.

Không khí nghiêm trang ấy, sau này Trọng nghĩ, là đưa tang nó, một thằng đàn ông thảm hại quỳ lạy, mếu máo bò sát đất, trước cái nhìn tê dại của bạn gái.

Đi khỏi đồng diều, nơi xảy ra cuộc gặp gỡ chớp nhoáng mà dài vô tận, đám lang thang biến mất nhanh như khi đến. Diều băng rồi, người ở lại chỉ còn nắm được cọng dây. Nỗi sợ hãi nuốt gọn tụi Trọng trong cái bụng đen ngòm của nó, rồi nhả ra theo một cách quá dễ dàng, làm cả hai lặng đi. Về gần tới nhà, Lê bỗng nói, mình cưới nhau nghen. Và Lê bắt đầu cuộc ân cần mà Trọng không thể phân biệt nổi đó là vì biết ơn hay thương hại.

Không còn là cô bồ ương bướng mỗi lần cãi nhau hay bất cần bảo, “ừ tui vậy đó, không thích thì chia tay”. Lê từng nông nổi ngang phè, nhưng Trọng thích. Nó nhớ Lê của những ngày tháng cũ, khi móc điện thoại ra gọi cho cô, ở chỗ cách đồng diều non cây số. Có đi tới chân trời thì mình không bao giờ ra khỏi đó, Trọng nghĩ vậy, và nói, “Lê, mình chia tay đi”.

Mớ thiệp cưới Trọng thả xuống mương lộ đã tắt những vòng sóng, chúng trôi yên bình, tựa lá khô củi mục. Từ phía đồng diều, những con bò thong thả đuổi kịp Trọng, lẫn trong tiếng bò gõ móng xuống mặt đường nắng bỏng, là giọng Lê, “Ừ, mình biết rồi !”


Apr 9, 2015

Biển của thời xưa cũ

Một ấn phẩm Nhà Kim đồng sắp đưa ra kệ nay mai. Dành cho những bạn đọc nào chưa có em này



Giá bìa cực kỳ cảm động luôn:p

Mar 17, 2015

Cần Thơ


Sáng thứ 7, ngày 28/3, từ 9h bạn Tư lại ngồi chơi ở Hội sách Cần Thơ.

Bạn Tư sẽ không nói gì, chỉ cười và ký tặng thôi :p