Sep 12, 2017

Những biển

Vào buổi sáng của ngày thứ mười hai, khi kéo tấm rèm không thể đoán nổi từng có màu gì, nhìn mặt trời ủ lửa bên dưới lớp sóng thớ lợ, Nhị tưởng đã ở đây một trăm lẻ chín năm rồi.

Chồng, vẫn chưa ngoi lên thở.

“Lại một ngày nữa”, Nhị nghĩ, hít một hơi ở gần cuối dãy hành lang, trước khi bước ra gieo rắc khí hậu tang thương lên quầy lễ tân, gian sảnh, con đường bên lề biển rồi chúng nhanh chóng lan khắp bãi Côi, qua những người bán rong dọn hàng, những chiếc ghe câu lác đác trở về. Thấm hút sạch cái thanh lành, vui tươi của buổi sáng, Nhị thay gió muối sảng khoái bằng thứ gió oặt bất hạnh. 

“Chưa thấy gì đâu. Tụi này mà gặp cậu ta là báo cô hay rồi”, một ngư phủ ẩn mặt sau đụn khói thuốc, nói luôn ngay khi Nhị trờ tới. Vẻ như không nghe thấy, nó nhón chân nhìn vô lòng ghe, như chồng đang rúc trốn dưới hầm nước đá đầy vãy cá, hay ém mình giữa nùi áo xống phía ca bin.

“Gần chục bữa đâu phải ít, nằm ngoài đó cá cũng rỉa sạch”, tổn thương bởi cái sự không được tin tưởng, anh ngư phủ xẵng giọng. Hoặc anh ta đã hết chịu nổi mỗi buổi sáng từ biển trở về, buộc gặp một người đàn bà mà anh không biết nên nói gì cho phải. Ngoài chửi bậy và phun những chuyện gái trai tục tĩu ra, lưỡi của một gã ăn đầu sóng không quen uốn mình nói những lời phù phiếm. Mất tích ở biển nhiều ngày, chỉ có đường chết, vậy thôi.
“Thì cũng phải thấy đống xương đó mới được chớ”, Nhị nói.

Nó coi cái câu rằng chồng giờ chỉ còn bó xương sạch bong là lời an ủi nghe được, so với mấy dỗ dành kiểu “sống chết có số cả”, “trời kêu phải dạ”, mà người bãi Côi đắp lên Nhị suốt từ buổi sáng chồng biến mất. Trưa ngày thứ hai, một du khách đã níu Nhị lại, kể chuyện ngoài quê, thằng em họ chị ta cũng mất tích theo bè cá trong trận bão. Ba năm nước mắt nguội, cỏ lợp trên mộ gió, ba cái giỗ vợ con thằng nhỏ bần thần kêu hương hồn trôi giạt ấy về ăn. Một bữa coi tin tức trên truyền hình phát hiện ra thằng đó vẫn sống nhăn răng, ở tuốt miền Giữa, đứng cạnh con đàn bà mang bụng chửa lặc lè, mặt thiểu não đứng trước máy quay kêu ca năm nay hạn dài bầy cừu chết ráo.

“Thấy chưa, mất tích đâu có nghĩa là đã chết”, chị nọ nói, giọng hết sức hài lòng vì đã tưới tắm cho sinh linh vắt không ra nước mắt này một cơn mưa rào hy vọng.

Một cơn giận vô cớ bóp nghẹt Nhị, nó muốn vả vô mặt chị ta, cho vỡ lớp son phấn trang trí dày cộm kia ra. Giờ thì không thể lờ đi cái ý nghĩ lởn vởn quanh nó ngay sau buổi chồng chơi sóng, rằng anh ta đang trả đũa chuyện nó thù nghịch suốt đường đi, bởi món nợ không đòi được, bởi anh đã đưa chiếc xe máy già lạc vài chục cây số chỉ vì “nghe đằng trước tiếng trống múa lân, tưởng gần”, và lúc chồng vuốt cổ chân rủ thử coi giường khách sạn có êm không, Nhị đã đạp anh văng vào vách không chút xót.

Chồng sửa soạn cho cuộc biến mất ấy ngay trước mặt Nhị, với vẻ hớn hở thường ngày. Chơi sóng một lúc, chồng trườn lên bãi uống cạn ly nước mía trong tay Nhị, nói muốn lặn đua với gã nào đó đằng kia, “so với phổi cá của anh thì thằng đó là đồ bỏ”. Rồi anh hụp khỏi lớp sóng khảm bạc, một tay bịt mũi, như thể bằng cách đó anh có thể nhịn thở lâu hơn. Ngay trước mặt Nhị. Không quẫy đạp, vùng vẫy. Chuồi vào đáy biển như đứa trẻ tuôn vào lòng mẹ, như lá rơi về đất. Sóng trải lên chỗ chồng vừa biến mất không có xoáy hay vết nứt gãy nào. Cả khi không thấy chồng trồi lên lắc bờm rũ bước, Nhị chẳng chút gợn lo, trong lúc lặn chắc thằng chả đã di chuyển sang chỗ khác, và lẫn vào đâu đó trong bầy người đang ngụp lặn trong biển cuối hè.

Sau này đội cứu nạn bãi biển cứ dằn vặt Nhị, thấy người không trồi lên mà cô tỉnh queo, cả buổi rồi mới báo. “Sóng gió như vầy cái xác đâu có nằm một chỗ mà chờ”, họ nói, khi cho tàu kéo lưới quây bãi. Nhị im lặng, ghì lấy mạn tàu nhìn mũi dãi cùng những thứ trào ngược từ dạ dày tuôn vào biển.

Chồng không theo dấu.

Ngày xám thứ ba, Nhị trèo lên dốc núi chia cắt bãi Côi với thị trấn phía bên kia. Nó nhìn lại dãy hàng quán được chằng néo tạm bợ trước bầy ngựa gió điên dại phi từ biển vào, mấy cái nhà vệ sinh công cộng bị mất cửa, những cây dương mọc không hàng lối thân xăm chằng chéo những lời thề ước lẫn chửi bới nhau, miệng cống tuôn bọt trắng lên rảnh cát sẫm màu. Chồng đang núp ở đâu đó, đắc ý ngó Nhị mắc kẹt trong vũng lửa cuối hè, ý nghĩ đó làm nó tức điên. Với sự đồng lõa của biển, quá dễ để đào thoát khỏi Nhị, khỏi cái vườn sầu riêng bịnh, khoản nợ nhà băng.

Lặn xuống và biến mất.

Lần biến mất gần nhất, chồng nhảy xe theo một đoàn xiếc thú ngang qua. một tuần sau chiếc xe vẽ một con trăn lớn cuộn quanh một con voi buồn thiu rũ vòi mửa chồng xuống đầu dốc. Đói lả. Nhị nhìn gã đàn ông và cơm hối hả, ngờ rằng anh không phải nhớ mình mà về, như anh giả lả khi vào đến cửa. Nó cay đắng nhận ra không thể giữ chân chồng bằng thứ tiểu xảo kiểu như giấu tiền, giấy tờ tùy thân. Không có mấy thứ ấy anh ta vẫn trốn đi chơi như thường.

“Thấy chưa, đã nói rồi mà”, mẹ Nhị hả hê. Bà đã không làm gì để ngăn chặn Nhị lấy một đứa trẻ lâu năm làm chồng, giống như không làm gì khi Nhị bị đánh đòn, ngoài cái câu ‘thấy chưa, đã nói rồi mà”. Quên cách hạnh phúc khi nhìn con cái hạnh phúc, nhưng có một câu mẹ Nhị không quên, khi một bữa nó sẽ ưng một anh lêu lổng trong xóm,

“Có sao đâu, miễn là thoát khỏi cái nhà này”

Lúc đó Nhị chưa biết đứa trẻ kia lớn xác từ những tùy hứng, bốc đồng. Mỗi buổi sáng anh xách dao ra làm cỏ vườn, Nhị không chắc anh sẽ trở vô vào bữa cơm trưa. Dao cắm lên gò mối, người thì không biết được đang chổng mông vô trận đá gà, hay vào thị trấn theo một đám sơn đông, hay đi xa hơn qua bên kia trại Bù Mắc coi đua ngựa. Và đói lả, lúc về. 
Để coi lần này thằng chả chịu được bao lâu, Nhị nghĩ, lúc nhìn mặt trời thỏa mãn chìm xuống sau một ngày hết mình nung đốt.
 
Trở về phòng, Nhị nằm lên cái hõm nệm trải giường, nơi chồng từng nằm, hãy còn hơi ấm. Thứ hơi ấm khiến Nhị bất an, hàng mấy chục tiếng đồng hồ trôi qua rồi, sao nó vẫn chưa chịu nguội. Nó bật dậy mở toang tủ áo, ngó vào gầm giường, ngờ mình sẽ xông vào bóp chết chồng nếu bắt gặp anh trong đó, ngó nó cười toe với bộ răng vàng khói thuốc, nói hay quá ta, trốn vậy mà cũng tìm ra. Nhưng ở gầm giường chỉ vài cái bao cao su đã dùng rồi, mớ lăng quăng mang sứ mệnh nhân giống nòi đã chết khô, và phía trên nóc tủ là cái chổi lông gà phủ bụi.

Đội cứu nạn bờ biển thông báo ngừng tìm kiếm chồng Nhị vào ngày thứ năm. Nó dọn qua phòng rẻ nhất, tận áp mái. Ở đó chỉ có thể ngó ra biển, một thứ xa lạ với Nhị. Nhìn sóng lao mình điên cuồng vào mõm núi bên kia, khác với vẻ thớ lợ khi liếm vào bờ cát, Nhị hình dung dưới chân miếu Nam Hải, sẽ thấy xác sóng nằm phơi trắng. Những cái xác hãy còn tươi, ướt, sùi bọt.

Nghe lạnh chỗ dái tai, nơi đôi bông vừa bị gỡ ra gởi lại một tiệm vàng. Ở đó giờ chỉ còn một đốm trăng xanh tái bằng đầu ngón út, chung quanh cháy rám cả. Vết lõm trên chiếc nệm cao su rốt cuộc không phải của chồng để lại, nó là dấu vết của bao nhiêu người đã thuê căn phòng đó, và mặt trời mùa hè rọi qua cửa chớp làm ra thứ hơi ấm gây hoang mang. Phát hiện đó vẫn không làm Nhị chấp nhận chuyện chồng giờ đã lạc vào một hải lưu nào.

“Chồng tôi đâu chết dễ vậy”, Nhị nói. Dân bãi Côi chẳng nhận ra mỉa mai trong ấy, cảm thấy sự tự ru ngủ, huyễn hoặc mình, khi người ta không thể ngay lập tức đối diện hiện thực.

Nhưng Nhị mộng du ở bãi Côi lâu hơn họ tưởng. “Cô ghi số điện thoại lại đây, tụi tôi sẽ gọi nếu có tin gì mới”, người của đội cứu nạn gần cạn sạch kiên nhẫn, khi mỗi cuối chiều Nhị tì tay lên bệ cửa sổ nhìn vào văn phòng của họ, chờ đợi như một chủ nợ.

Sự hiện diện của một con đàn bà tiều tụy làm cho bãi biển đánh mất vẻ tự nhiên vốn có, cô ta nhắc nhớ một kẻ bất hạnh bị biển mang đi, và ai đó nói chuyện tiếu lâm và cười lớn, nô giỡn với con chó, hay áp tay vào rốn người tình đều tự thấy mình có vấn đề về đạo đức. Cả những du khách mới tới cũng bị cướp đi niềm vui khi biết ngoài kia có một kẻ đang ướt lạnh nổi trôi, và chẳng có gì bảo đảm anh ta không kéo thêm người xuống đáy chơi cho đỡ chán.

Có thể cảm nhận được mùa hè bãi Côi đang bị vữa thiu vì mình, Nhị vẫn không từ bỏ. Hiện hình vào mỗi buổi sáng, nó gầy rộc, hệt như những kẻ bị biển cướp người thân, nhưng trong Nhị chỉ có cảm giác bị qua mặt. Không phải mất mát.

Đôi lần nó phải chỉnh vẻ mặt mình, sao cho thật sự giống kẻ mất chồng.  Nhưng sẽ không tránh được xao lãng, như đi qua chỗ người ta trưng hải sản tươi sống trong bể kiếng, Nhị nghĩ tụi này đắt phải biết, và việc nhận ra một vài con số thay đổi trong thực đơn quán ăn đã kéo Nhị ra khỏi sự tập trung vào cú biến mất của chồng,

“Nay cuối tuần, hèn chi họ mài máy chém”, không nén nổi, Nhị thở hắt ra.

Những thời khắc kiểu vậy làm Nhị hơi hổ thẹn, chồng vẫn chưa tìm thấy, mình đang đứng trước cái tang lớn của đời, sao có thể để đầu óc vào chuyện không đâu. Một lần, Nhị đã co chân sút trái banh đang lăn về phía mình trả về phía tụi nhỏ đang chơi. Rồi hoảng hốt nhìn quanh sợ ai đó bắt gặp hành động không phù hợp với hiện thực vấn khăn xô này.

Người bãi Côi xui hãy thắp nhang khấn vái cho linh hồn kia sống khôn thác thiêng dẫn thân xác tìm về, rốt cuộc khói không tới nơi. Hoặc vì lúc cắm những chân nhang lên cát, Nhị mỉa mai nghĩ thứ này với người sống thì có tác dụng gì.   

Phải không, buổi tối đó chồng đòi đi biển chơi cho bằng được, chỉ là bốc đồng ? Chồng chắc lưỡi nói biển gần vậy mà không ra tắm cho đã, không phải quá uổng sao. Lúc đó họ ở gần ngã ba Bù Mắc, rẽ trái là con đèo dẫn về nhà, biển ở bên phải cách đó non ba mươi cây số. Mọi thứ đang đứng về phía ham muốn bất chợt của chồng, dãy núi tối thẫm với con đèo không cao nhưng nhiều cua tay áo, vài chiếc miếu lạnh cất bên miệng vực chỗ những chiếc xe trôi mang theo vài chục mạng người, đá ứa ra thứ sương đục như sữa, đèn xe chập chờn lúc sáng lúc tắt ngóm không theo một chu kỳ nào.

“Bởi cái thứ ăn hại anh, phải đừng đi lạc thì đã tới nhà mấy kiếp”, Nhị rít lên cho dịu bớt cơn thèm nện thứ gì đó vào gáy chồng. Nhưng Nhị chỉ có bó đậu đũa trong tay. Thứ duy nhất Nhị lấy được từ nhà con nợ, sau chặng đường đi non trăm cây số. Biết được mục đích của chuyến thăm, họ đã bày ra một màn kịch nheo nhóc. Đứa trẻ nhỏ nhất treo bên vú tóp khô của mẹ, mỗi lần vuột mất lại khóc ngằn ngặt, hai đứa lớn hơn đánh nhau giành nắm mì tôm sống, và gã đàn ông từng nhận xấp tiền từ tay chồng Nhị thì nằm sốt, răng va vào lạch cạch vào răng.

Gói tiền đó bọc trong tờ lịch nhét vào một cái bì thư, bên ngoài gói thêm tờ giấy báo, Nhị đưa chồng đi đáo hạn ngân hàng. Anh ghé ngang quán nước, nghe gã thợ hồ than vợ đẻ dưới quê mà không về được, phải chi kiếm được chút vốn mở tiệm tạp hóa lây lất qua ngày, thoát cảnh chồng đông vợ tây, chồng vỗ đùi kêu cho mượn, tiền sẵn đây rồi. Chiều đó Nhị nổi điên, anh không thấy có lỗi còn dậm chân bỏ ra vườn, nói “cô coi trọng tiền hơn tôi”.

Phải không, từ lúc đó anh đã lên kế hoạch một cuộc biến mất theo phương cách độc địa nhất, khiến Nhị có khóc ra nước mắt thì cũng không thể phân biệt nổi đó là nước mắt gì ?
Khuya của ngày thứ bảy, Nhị thức giấc sờ mặt thấy ướt, tưởng mình đã khóc được trong lúc ngủ. Nhưng chỉ là trần nhà nứt, dột ngay mặt Nhị. Mưa đêm.

Chỉ cơn nước trời tráng mỏng, sáng ra nắng nóng vẫn đặc quánh, cả gió cũng im. Mưa như là cơn chiêm bao của mùa hè, tỉnh dậy chẳng dấu vết nào ngoài cơn váng vất. Lũ ruồi kéo tới đông hơn, Nhị đi tới đâu khuấy cơn lốc đen tới đó, đôi khi nó còn chọc vào đống vỏ tôm du khách bỏ lại trên cát, như chồng đang núp trong ấy. Cái vệt thương cảm sau lưng nó giờ đã tàn, chỉ mỗi bà già bán vòng chuỗi hạt ngọc trai còn chắc lưỡi thở dài, ‘tội nghiệp, hồi tới đây có đôi mà giờ còn lại mỗi mình”. Buổi tối hôm bọn Nhị tới, chóng mặt bởi rừng khách sạn chong đèn, đã ghé hỏi bà già ở chỗ nào thì rẻ.

“Cái thằng thiệt cao ráo, vậy mới uổng chớ”, bà già xác nhận mỗi khi có ai hỏi về người mất tích. Đó là người thứ hai chứng thực là chồng Nhị từng tới đây, ngoài lễ tân khách sạn. Không thì cái thân xác nặng sáu mươi tư ký đó trở nên vô hình, chưa từng tồn tại. Anh đội phó đội cứu nạn, sau những ngày vớt bọt nước, có lần ngó Nhị với ánh nhìn một con bịnh hoang tưởng,

“Có chắc là chồng cô đã tắm ở bãi này không ?”, anh hỏi, “Nhiều người nói thấy cô chỉ có một mình, sáng đó” 

Nhị không xuống tắm. Nó lót dép ngồi trên bãi cát vừa qua cơn co thắt bởi thủy triều, ôm bộ đồ tây của chồng trong lòng, sợ ngấm ướt. Nắng hè nhễ nhại trên những cơ thể trơn mịn treo hờ hững hai mảnh vải nhắc Nhị nhớ vết sẹo bỏng chảy từ vai xuống giữa lưng hồi mười tuổi, và vô số vết hằn của roi mây, vắt ngang thân suốt từ lưng đến tận đùi. Dù chồng nói sẹo roi là Nhị ảo giác thôi, chúng không ở đó. Rồi anh nảy ra cách chữa thương càn dở là liếm cho liền những vết vô hình. Lưỡi chồng nhiều gai, ướt mềm, Nhị chừng như quên.

Nhưng biển nhắc nó nhớ những lằn roi. Giống như biển nhắc mấy người đàn bà đang ngồi xa xa ngó chồng con đi giỡn nước rằng họ thảm hại quá chừng với làn da cháy cóc cáy, những chỗ nứt rạn sau sinh, những thân hình hoặc phị mỡ hoặc lép xẹp, những sẹo vết không đếm hết. Dè bĩu mấy cô gái ngang qua mặc đồ tắm chi mà nhỏ xíu, “chủ yếu để khoe thân”, họ còn không nhận ra cơn thèm muốn được hóa hình vào dãi thân thể nuột nà kia, uốn lượn giữa biển xanh với hàng trăm con mắt ngó.

“Tắm biển hơn tắm ao ở  bộ đồ hai mảnh đó”, chồng lim dim nói lúc ăn bữa sáng. Anh đã bắt chuyện với một cô gái khi Nhị qua đường mua bánh mì. Nhìn theo dãi thịt da nâu bóng vừa kịp bắt sáng đã tan dần trong sóng, giọng chồng rành rẽ, “Sắp bốn mươi rồi đó, chồng bỏ, cổ buồn tình đi biển chơi”

Nhị nghe như không, cố nuốt mẫu bánh mì chẹn ngang họng, tan nát bởi viễn cảnh chút nữa đây trở về nhà tay không, món nợ vẫn xa vời và những cuộc điện thoại từ ngân hàng gọi tới. Và sầu riêng sau vườn vẫn rụng ngay khi chưa đầy múi, rụng miệt mài, đêm ngày, suốt hai mùa nay, đến chiêm bao Nhị cũng thấy sầu riêng rụng, và mẹ nó hả hê, “thấy chưa, đã nói rồi mà”.

Buổi tối lại sau khi chồng biến mất, nhận ra lúc mình chạy đi tới văn phòng cứu nạn, quần áo chồng đã biến mất, Nhị mới tự hỏi sao trong khoảng thời gian chóng vánh vậy, chồng nói về người phụ nữ kia thao thao như quen biết lâu ngày. Phải không, đó là lần đầu tiên họ gặp nhau ? 


Những câu hỏi tựa sóng, cao lút đầu, vỗ mãi vào người Nhị.

Jul 17, 2017

Quà không đợi


Cả thời gian, khi đi qua căn buồng mười một mét vuông này, cũng bịnh. Nó trì trệ đến có cảm giác không dịch chuyển. Ngày rất dài như đang đông cứng.

Buồng bịnh của những người già đêm ngắn đến thoảng qua. Hết bà già này sành soạn tư trang tới ông già kia lê dép. Hai giờ sáng, những rì rầm đã khơi một ngày dài quá dài lên. Cùng chịu cảnh bị xác thân phản bội, thần chết rượt đuổi, nên người trong buồng dễ chia sẻ đời nhau. Gốc gác giạt trôi thuở nào, bồ bịch thời trẻ ra sao, có bao nhiêu sẹo vết trong người, mấy phen trốn nợ, hay giấu tiền ở đâu. Mã số két sắt ở nhà phức tạp quá, phải dễ nhớ là vui miệng nói luôn.

Bà già chuyển từ phòng cấp cứu sang buổi tối, sáng ra gia cảnh bà người cùng phòng thuộc làu. Khoe có tới mười một đứa con, thằng dở nhất làm bà lo rầu nhất làm công nhân xưởng may xuất khẩu. Nó ham chơi không chịu học, chớ anh chị nó không tiến sĩ thì cũng chuyên gia. Giữa hai lần trái tim lên cơn, bà già kể mãi tên từng đứa cháu chắt trong nhà, như một cách bà chống lại chứng mất trí nhớ bắt đầu giăng sương mù lên não.

Hôm qua bà đi siêu âm tim, lúc về lạc sang khoa khác tận tòa nhà bên kia, báo hại chị nuôi mướn chạy tìm vắt giò lên cổ. “Nuôi mấy cas lẫn này ngủ trưa cũng không yên”, chị càu nhàu khi kê ghế bố sát cửa ra vào, nói “bả mà đi lạc phải bước qua xác tui”. Chị này nuôi bịnh chuyên nghiệp, đến mức gần tới giờ thăm là chị bắc ghế rề lại xoa bóp, giặt khăn lau mặt mũi cho thân chủ mình, bảo đảm người nhà ngó thấy sẽ nghĩ món tiền công được dùng xứng đáng.

Giờ thăm bịnh, chẳng riêng chị nuôi mướn lột vỏ, mấy bà già cũng bừng tỉnh theo tiếng giày dép qua dãy hành lang, tiếng khua của cà mên cơm, tiếng nói cười thăm hỏi. Cửa buồng mở toang, bà già nằm ngó ra cửa, trông ai đó trong đám con đàn cháu đống của mình sẽ ghé qua thăm, để hớn hở khoe với bạn giường bên, “đây con nhỏ này lên truyền hình hoài, tui kể rồi đó, con nhỏ mới bốn tuổi đã biết đọc báo làu làu đó”

Chị con gái đó chỉ tới một lần, thanh toán tiền cho người nuôi mướn. Tuần sau là một người khác, cũng ngồi gá bên mép giường bà chừng mươi phút đã ra về. Bạn cùng buồng sinh nghi bà đặt chuyện thôi, vì đếm tới lui chỉ vài ba người ghé lại. Nhưng gia cảnh bà, qua cái miệng đã tóp khô, sinh động như thật. Tính tình, dáng vóc của đám người kia ngày nào cũng được bà già tái hiện ra dưới ánh đèn bạc nhợt. Trong cái cách thao thao khoe lắm con nhiều cháu, có gì đó ráo riết, chừng như bà muốn nhét dúm ký ức kia vào lòng bạn cùng buồng, hờ nay mai lú lẫn đến vong thân, thì vẫn có ai đó nhớ tới những đứa trẻ giỏi giang của bà.

Nhưng nỗ lực ấy chừng như vô vọng. Chị nuôi bịnh mướn mãi cắm đầu vô coi hài kịch trên điện thoại, bà già nhỏ nhắn giường bên hỏi không khí “mấy giờ rồi ?” rồi lại hỏi “ai ăn cắp chai nước biển ?”, và ông già nằm băng ca thì không buồn góp chuyện cho vui.

Hồi ông mới nhập buồng, ai cũng nghĩ ông đây chắc được cưng chiều. Ai đời đi nằm viện mà gối ôm, gối nằm, mùng mền lủ khủ. Cộng thêm hai túi trống căng chật, không khép miệng được, thò chân cái ghế mủ ra ngoài. Đem theo bên mình còn là những tràng ho mà cứ năm ba phút chúng nảy cồng cộc ra khỏi vòm họng. Lúc đầu có một anh nhã nhặn giúp ông lau mặt xức dầu, nhưng nhìn mãi cũng không giống ông già chỗ nào ngoài cái chỗ là đàn ông. Ai đó khen con rễ thiệt là chu đáo. Nhưng anh chỉ là tình nguyện viên chùa Huệ Giác bên sông. Bữa trước nhà chùa mở cổng ra thì đã thấy ông già ngồi đó, ướt ngoi bởi mưa đêm, hơi nước của cơn áp thấp ngấm vào tận phổi ông, làm nên cơn sưng viêm cấp.

Ông già không nhớ gì hết, không nhớ tên gì con cháu ở đâu, sao nửa đêm mưa gió lại tới đó, làm cách nào ông di chuyển trong khi xe lăn vẫn xếp càng nằm tuốt gốc cây vỉa hè. “Tui mất trí nhớ”, ông nói, có vẻ không thật lòng. Bởi lúc bác sỹ thăm khám, ông kể vanh vách từng viêm phổi bao nhiêu đợt, tháng chín năm hai ngàn lẻ mấy phải uống thuốc lao theo phác đồ, thường phải ngủ ngồi vào những ngày gió Bấc. Ông nói một năm có tới mấy lần phổi mình như bị đổ xi măng. Nhưng ông không nhớ tên mình, kẻ đã chở mình tới cổng chùa rồi bỏ mặc thân xác già nua ấy chìm lún dưới cơn mưa. Hoặc là nhiều cơn, bởi không ai biết ông già ở đó từ nửa đêm hay gần sáng, mà cả người tím dại đi.

Số phận xếp kẻ (tự nhận) không nhớ gì hết chung buồng với kẻ nhớ đủ thứ trên đời, cả tấm tã của đứa con đầu lòng vá lại cho đứa thứ hai, cả trận đẻ trong hầm, và những cuống nhau chôn dưới cây khế nơi vườn cũ. Giữa người nhớ kẻ quên là một bà già lúc nào cũng hỏi, “mấy giờ rồi ?”, nhỏ cháu bà đắm mình trong cuốn truyện ngôn tình. Chị nuôi mướn miệng nhai tóp tép món gì đó, vừa gắt người bịnh uống nước chi cho cố rồi đòi đi tè, đã ngay lập tức đã cười ré lên với một trò hề trong điện thoại. Thời gian đi qua căn buồng cũng bịnh. Mớ lá trường xuân trên một chậu cây trang trí nơi gờ cửa sổ đã xanh hàng nhiều năm nay, và chắc chục năm nữa lá kia mới rụng. Cả khi lìa cành, vẫn xanh. Chúng là cây nhựa.


Trong căn buồng mà mọi thứ đều tê cứng, mỏi mệt, bà già nhiều con vẫn kể mãi đứa trẻ bà đã cõng qua mấy công đất cày tới trạm xá lúc nó bị rắn cắn, cặp sanh đôi ngồi hai đầu gánh bận tản cư. “Tui sắp lẫn tới nơi rồi, bác sỹ làm gì đi chớ, để vậy sao được”, bà luôn nói câu đó mỗi buổi thầy thuốc ghé thăm, như thể là muộn phiền duy nhất, không phải là trái tim bị lỗi nhịp đập bất thường, cũng không phải là hai khớp gối đau nhức kinh niên. Thấy rõ là bà không mặn mà gì với món quà ông trời ban : sự quên lãng.

Mar 5, 2017

Khói và gáy (cập nhật)





Mấy cuốn này lâu lâu không ra quầy ngồi chơi, sẽ hiện hình trở lại vào một vài tuần tới.

Cập nhật : Hai em đã có mặt ở quầy :p

Cảm ơn bà con vẫn nhớ và ghé thăm đây và bùi ngùi vì lâu không thấy. Tui ổn ! :)

Oct 10, 2016

Hiện hình :p

Thấy bà con hỏi thăm, cảm động. Nếu không thường xuyên hiện hình, bà con hãy nghĩ về những mưu đang  được ủ.

dưới đây là ví dụ :

"Cũng không còn gì nhiều, cả dãy nhà bị cháy rụi. Lửa không gió đêm tháng Hai nghiêm túc và tận tụy, hóa tro hết thảy những thứ được hong nắng suốt mùa khô. Một nhân viên trong Đội thu dọn hiện trường sục mũi giày vào bộ khung tủ lạnh bị biến dạng, nói chỗ này đến con người còn không còn chút nước, nên khó dập lửa là phải. Vài người cười rộ, có lẽ hiểu được câu đùa khéo, rằng những thân xác già nua ở đây cũng dễ bắt lửa vô cùng. Nhưng rồi cảm thấy cười đùa ngay lúc này và trên đống tro này là không phải, họ vuốt thẳng cơ mặt mình, đi lại giữa những bức tường vẫn còn nóng ran, mảng bê tông rơi ra từng mảng, trơ ra thứ gạch đã qua lửa hai lần.

Nằm co trong chiếu, Mỹ chờ tôi sáu tiếng đồng hồ. Người quản lý nhà dưỡng lão trấn an qua điện thoại, khi tôi gọi anh báo chuyến bay lại hoãn thêm bốn mươi phút. “Không sao đâu...dù gì... như anh biết đó...cũng đã chín...”, anh nói.

Như củ khoai vùi trong bếp. Lành hiền. Vô hại. Tưởng như chỉ cần bóc lớp vỏ bên ngoài ra sẽ gặp mảng thịt vàng như mật. Đây là Mỹ, tôi nghĩ, lúc giở tấm chiếu ra, trong một sự điềm tĩnh không biết kiếm được từ đâu, và có chút bực bội, khi nghĩ rằng nửa mặt Mỹ giấu sau lớp bông gòn chắc đang cau lại, hệt như mỗi lần tôi tới thăm, chị hay lẩn vào chỗ nhập nhoạng.

Giờ Mỹ cũng vô cùng ngại ngùng. Co lại như tìm hơi ấm từ chính mình, gọn gàng hết mức có thể, cả người khô ráo, ngay cả những chỗ nứt trên thân cũng không rỉ dịch. Cảm giác như ngọn lửa bọc lấy chị rất từ tốn, chậm rãi rút khô lớp mỡ dưới da vốn không nhiều nhặn gì, nhẫn nại phà hơi nóng của mình vào tận bên trong, đúng như cách người ta dạy chúng tôi nướng gà hồi đi lang thang.

- Áp lửa là không được đâu, muốn ăn ngon thì đừng gấp. Cứ để liu riu vậy, nó sẽ chín thấu tới trong"