Sep 28, 2014

Lại một chương

Một buổi tối của tuổi mười lăm, cô Chín Tím được tìm thấy dưới chân cầu Tân Thạnh. Rách mướp, nhưng tay cô nắm chặt tới mức người ta chỉ có thể mở ra từng ngón một. Giữa lòng tay xanh lạnh, là một cái nút áo.

Tròn, màu trắng đục gợn nâu, vật chứng duy nhất cô Tím tóm được kẻ thủ ác đã chuyền qua tay từng người trong xóm, với hy vọng ai đó từng nhìn thấy nó hoặc anh em còn lại của nó. Cái nút có thể bị bứt ra từ áo trắng học trò, áo xám của anh đò dọc, áo kẻ của ông thầy giáo, áo chim cò của mấy thằng người hay ôm gà nòi đi cáp độ.

Nhưng chỉ có vậy, của bất cứ ai, bằng nhựa, lợn cợn trắng nâu, chỗ đính chỉ vô áo bị gãy, cái nút không nói gì không kể gì thêm. Người có thể kể thì lơ tơ mơ mỗi chuyện mình bị bịt miệng từ phía sau bởi một cánh tay cứng đanh, sau đó ngất luôn không biết chi trời đất. 

Thiêm thiếp trên chiếc giường trạm xá, đôi lần tỉnh dậy cô Tím lại dập đầu vào tường, người ta phải nhồi thêm thuốc ngủ cho cô lịm đi. Ai tới thăm bà nội thắc thỏm mỗi câu “thiệt là quân ác nhơn, không lấy gì đắp cho con nhỏ”, như thể chuyện con gái bà phơi lạnh quan trọng hơn hết thảy chuyện khác.

- Khóc chừng nửa năm thì tôi nín. Anh cũng biết đó, nước mắt đâu mà khóc hoài.

Làm ra vẻ dửng dưng, cô Tím kết câu chuyện của mình, để giải thích cho anh con trai hiểu sao qua tuổi ba mươi mà cô chưa chồng, sao cổ cô đeo sợi dây chuyền bạc xỏ qua một cái nút áo. Cuộc coi mắt sẽ kết thúc ở đó, nhưng có khi kết thúc ngay lúc người con trai ghé cái quán đầu xóm để hỏi nhà Chín Tím. Phải Tím Nút Áo thì qua doi kia là tới. Vụ nút áo là sao hả ? Vầy, hồi con nhỏ mười lăm tuổi…

Chắc phải bỏ xứ đi con Tím mới mong kiếm được tấm chồng, bà nội hay rên rỉ vậy. Nhưng cô phải ở lại, hy vọng tìm được kẻ hại mình. Gã phải là người trong xóm mới thuộc lòng những chiều thứ sáu, cô Tím về nghỉ cuối tuần, xe lam chạy từ chợ về tới đầu xóm thì trời đã nhập nhoạng. Phải là người trong xóm mới đánh ngất cô để khỏi bị nhận mặt. Trong tay chỉ có cái nút áo câm, không đủ làm ra công lý của người, nhưng cô tin luật trời, thằng bất lương đó phải có khi lơ là mặc lại cái áo có hàng nút tật nguyền, hoặc sẽ biến sắc khi nhìn thấy dấu vết tội ác lủng lẳng trên cổ cô.

Suốt nửa năm dành cho việc khóc, cô Tím trốn ở trong nhà, thế giới của cô chỉ từ cửa giữa ra sau bếp. Nếu không phải nấu cơm giặt giũ cô sẽ săm soi nút áo, như nuốt trộng bằng mắt, ghi khắc, đóng đinh nó vào lòng mình. Một bữa cô Tím hỉ mũi cái rột, lấy cùi tay lau nước mắt, nói với chị dâu, mai đi coi cúng đình.

Chín Tím bắt đầu lảng vảng những chỗ đông người. Hay đi bộ ngoài đường, gặp người đàn ông nào cũng nhìn nghiến ngấu. Chẳng quan tâm mặt mũi vuông hay tròn, chân ngắn hay cong, chỉ nghĩ coi mặt họ có biến sắc không, áo có đứt nút không. Kẻ bất lương đang núp sau mặt nạ của anh Bảy dượng Ba, những người đàn ông sớm xỉn chiều say, hay chính ông ấp trưởng có ánh nhìn lén lút, không chừng. Cô tin mình sẽ nhận ra gã bằng thứ linh cảm được chuốt nhọn trong từng ấy tháng ngày. Mùi mồ hôi tay, hơi thở dày như tát lửa vào gáy cô, và tiếng tim gã lồng lên trong ngực. Chắc chắn mình sẽ bắt được quân bất nhân đó, cô Tím nghĩ vậy. 

Bà nội tự dưng lo, “coi chừng gánh nút áo còng lưng”. Quãng đó bên sông có anh thợ máy nhờ mối mai qua hỏi cưới. Cô Tím cũng hơi xiêu lòng, nghĩ hôm cưới sẽ mời đông, biết đâu oan gia của mình cũng tới. Bữa Thợ Máy xách cặp vịt qua nhà xuống mối, nhìn thấy nút áo trên cổ cô Chín, anh chết lịm. Anh bảo từ  đẻ ra đã sợ nút áo rồi, nên mặc toàn áo thun tròng cổ, cũng không biết sao lại sợ, chắc kiếp trước bị một vốc nút chèn ngang họng chết oan. Cứ thấy nút áo Thợ Máy sẽ không thở nổi, mà Tím thì lúc nào cũng treo tòng teng trước ngực, cưới nhau sao giờ.

Chỉ cần gói cái nút giấu đáy tủ hay quăng phứt ra vườn, là tháng Giêng sang năm có pháo rước dâu,  bà nội rên rẫm. Chín Tím đóng cửa buồng nói vọng ra, “vậy khác gì bỏ qua cho ”. Chủ nhân của nút áo giờ biết đâu đang nằm tréo nguẩy cho vợ nhổ tóc bạc, hay thảnh thơi lắc võng ca vọng cổ, biết đâu ngồi coi đá cá lia thia. Hình dung đó làm cô Tím thấy mình bốc khói. Phải có ai đó trả giá cho cái cảm giác buốt ruột, buồn ói mỗi khi bước qua cầu Tân Thạnh, cho những ánh mắt thương hại dính vào người, cho tuổi hai mươi héo rượi.

- Tôi mà đi theo anh rồi thì tụi vô lương đó sẽ thảnh thơi đã đời, vậy đâu được.

Sau câu nói đó, thêm một người đàn ông ra về khi vừa mới ngồi ấm chỗ bàn trà nhà nội. Anh này không ghê nút áo, chỉ ở hơi xa. Cô Tím không ngại lấy chồng cách nhà mười ba cây số, cảnh lạ người lạ, cọ bụng chồng sẽ làm mối thù mòn mỏi. Nút áo còn cô còn nhớ mình từng tơ tướp bên cỏ chân cầu. Nhưng cái sự vắng mặt của cô sẽ làm thoát nơm nớp ám ảnh, vậy thì ông trời làm gì có mắt. Chín Tím chọn làm gai, không làm đàn bà nữa.

Một bữa bà nội lén cắt sợi dây chuyền lúc con gái ngủ trưa, bà nội quăng cả dây và nút áo xuống ao bông súng. Ai ngờ chỉ chút xíu vầy mà nặng, bà nội nghĩ vậy khi nhìn những vòng sóng dần lặng, nước khỏa dấu vết của cái nút áo vừa chìm xuống. “Bỏ đi. Sống đi. Sống như thiên hạ vậy”, bà trệu trạo bảo khi Chín Tím dậy quờ quạng cái cổ trống không. “Họ đâu có nằm phơi bụng dưới chân cầu”, cô cãi, chậm rãi ra ngoài ao bông súng không phải để nhìn bông súng. Bà nội mướn người bơm đất lấp ao, cảm thấy hành động ấy quá chừng vô vọng. cô Tím vẫn nhìn thấy bên dưới cỏ, dưới rễ cây mít, dưới từng lớp đất nâu nhão nhoét, có cái nút áo.

Nọc con rắn hổ đất chạy từ cổ chân lên tim cô Tím vào năm cô bốn mươi hai tuổi. Nhưng người ta cảm giác cô chết lâu rồi, đã lâu linh hồn chôn cùng cái nút áo.


Tròn, bằng nhựa cứng, trắng gợn nâu.

Sep 27, 2014

Màu nước mắt


Không có gì giống nhau, cả màu tóc và màu mắt. Da Vàng chân ngắn mũi bè, lấy chồng từ năm hai hai tuổi, nhân dịp trốn đi chơi, buổi chiều xứ lạ ngồi nhớ bầy con chừng này chắc vừa tan học. Da Trắng mũi hếch, mặt nhiều tàn nhang, lông tay bạc óng ánh dưới nắng, có anh bồ Thụy Sỹ chơi trumpet trong một ban nhạc jazz. Và cô không bao giờ cưới hay sinh con, dành thời gian của đời mình đi lang thang làm mấy dự án phi chính phủ kiểu như trợ giúp phụ nữ và trẻ em bị buôn bán.
Gặp nhau ở chỗ nghỉ lưng chừng núi, Da Vàng đi xuống, bạn trắng thì lên, thổn thức hỏi còn bao xa thì tới ngôi đền. Một cơn mưa nhỏ giữ cả hai lại phiến đá thêu rêu trước miếu thổ thần. Thời gian chật, nhưng cũng đủ bật ra những tò mò, về hôn nhân và tự do. Ngó đời nhau thấy ngộ. Cuộc chuyện trò có khi phải dùng tay và nhánh cây vẽ lên rêu đá những hình thù để phụ họa, mấy lúc phải tạm dừng vì Da Vàng có điện thoại. Người nhà hỏi đổi gas thì đổi ở cửa hàng nào, áo ấm của thằng nhỏ thì để ở đâu. Mới đi mấy hôm thôi mà ở nhà đã trở mùa.
Những lúc đó cô bạn tóc đỏ cứ bật nguồn điện thoại nhìn vô đó tần ngần. Trên ảnh nền có một anh tóc xõa dài tay ôm cây kèn nhìn lãng tử.
Da Vàng khoe hình con, tranh thủ câu giờ để suy nghĩ câu hỏi bất ngờ của bạn, “sao cứ phải lấy chồng ?”. Chưa bao giờ tự hỏi mình điều gì giống vậy, cô ậm ừ thì mà là, thấy người ta vậy thì mình cũng vậy, yêu và cưới cũng tự nhiên như ăn và thở. Nếu không có trách nhiệm và ràng rịt những mớ dây nhợ không nhìn thấy bằng mắt thường, sống chỉ bằng vui thôi thì khó. Vì đời vui được mấy đâu, con người ta thò đầu ra đã khóc rồi, những đứa không khóc còn bị đánh cho khóc. Lấy thí dụ như đi chơi vậy, cuộc đi này đáng giá gấp mười chuyến đi của những người nhàn hạ khác, vì bà mẹ trẻ phải thu xếp một tuần hoặc nửa tháng trước, đứa nhỏ nhất nên gửi về nội hay ngoại, con gái học cấp hai nhờ ai đưa đón.
Những thứ này không giống câu trả lời, Da Vàng hoang mang nghĩ, may mà bạn không bắt bẻ, bạn mãi nhìn tụi nhỏ trong hình cười khoe răng sún. Hoặc Da Trắng đủ tinh tế và bao dung không dồn bạn vào đường cùng.
Cô chẳng vướng bận gia đình, nên cô thoải mái đi xa, qua xứ cát nóng kinh người, qua rừng mưa nhiệt đới. Thế giới của cô là những bé gái Ấn mười tuổi đã bị bán vào nhà chứa, những bé gái Somalia buộc phải phục vụ tình dục cho phiến quân, những chuyến xuyên rừng theo chân bọn buôn người qua biên giới. Không ngày nào giống ngày nào, cuộc sống của cô đầy kịch tính.
Bạn chỉ kể chuyện người, không tả cảnh, mà Da Vàng biết đôi mắt xanh kia đã ghi lấy bao nhiêu thứ lạ lùng, cây baobab bị khoét thân làm đường ba làn xe chạy, chợ trời ngợp ruồi ở Bangladesh, những nhà thổ trong khu ổ chuột Bombay. Buổi sáng trước khi ra phi trường bay từ Âu sang Á, Da Trắng ngồi giũa móng tay, ái ai ái à chia tay với anh bồ trên bộ sofa lụa, rồi thủng thẳng sửa lại tóc ra cửa vẫy xe. Những chuyến đi nhẹ nhõm. Đâu có phải chạy vắt giò quét nhà, nấu cơm, phơi đồ trước khi ra đường, như Da Vàng.
Đời ta như quyển sách vừa mỏng vừa tẻ nhạt, Da Vàng nghĩ vậy, trong lúc tìm một vài chuyện nào đó mô tả cuộc sống của mình. Một con đàn bà tha thẩn trong khoảng sân nhiều hoa và chim sẻ, vừa ngó chừng con gái đang tuổi dậy thì tính tình thoắt nắng thoắt mưa, vừa lo thằng út sổ mũi, ho. Chắt mót một năm được vài chuyến đi chơi. Thích nhất là ngồi một mình ở nơi xa lạ, ăn món lạ, nghe người ta nói bằng thứ thổ ngữ địa phương cũng lạ. Vui nhất lúc đi gom quần áo cũ, sách cũ đem cho trẻ con ngoài đảo. Bình yên nhất khi nằm coi truyền hình cùng tụi nhỏ, dõi theo chuyện tình ông chủ và cô bảo mẫu đang đến hồi kết ở tập một trăm.
Bằng cách nào đó, một ngày đã đi qua mà không để lại dư vị. Chỉ khi quần áo con ngắn, thì mới nhìn thấy dấu chân của thời gian. Da Trắng tỏ ra không hiểu nổi, cái cuộc sống ấy không phải quá chật chội và tù túng sao?
Rảnh đâu nghĩ tới chuyện chật hay  không chật, Vàng cười.
Chuyện chưa xong mưa đã hết, từ chỗ của họ ngồi, nắng bắt đầu phết mật lên cây. Lúc chào nhau Da Vàng nói chúc bạn hạnh phúc với anh Trumpet. Tự dưng cô bạn mắt xanh sụt sịt, “Bốn ngày rồi anh ta không gọi”. À thì ra là nhớ, nên cứ cầm điện thoại tần ngần, cứ như chờ đợi.
Rốt cuộc thì cũng có một thứ giống nhau: màu nước mắt. Mấy lúc Da Vàng đau đầu mà chồng vẫn bỏ đi nhậu, nước mắt cô cũng y chang Trắng, giống cả vị mặn.
Một người lên, một người xuống núi. Ý nghĩ cả hai còn để lại ở lưng chừng.

Sep 15, 2014

Bão lá


giật tung những che đậy tỏ mờ
những vết sẹo kín trên cành không chút ngượng
cây trên đường Hoàng Diệu khỏa thân

vàng tuôn ràn rạt
úa rời xáo xác
tròng trành một đám rước trăng
sót đôi tổ sẻ cuối cành

tháng chín thầm đi sau anh chín bước chân
gió lá mùi mồ hôi anh lạc
mưa lá xước anh như đoạn phim nhàu
lá giữa chúng ta dày thêm vách nữa

bão lá bão lá
khúc hoan ca của diệp lục tàn rã
tình nhân thổi bụi mắt nhau
sao ta đau

bão lá bão lá
từ nhớ câm tươm chồi
mình nén lá ào vào anh giông bão

nhớ anh nhớ anh nhớ anh

Sep 6, 2014

Tiễn Phong















hai tay bạn gói
má Phong không đầy
nghĩ da thịt đi trước cho Phong nhẹ bước

nghĩ về ghế trống
cốc rượu không
đám đông co ro

nghĩ cây nhỏ Phong trồng không biết mọc thẳng hay cong
đầu gậy mẹ hẫng trong bóng khói
hẹn hò chôn vội

nghĩ cỏ vườn vá víu dấu chân
nghĩ mưa nắng qua máu lá tan dần
cái tên dài hằn lên như sẹo đất

nghĩ mình rồi sang sông không sóng
mai kia tin nhắn gửi vô cùng
lạ lùng, không nghĩ về Phong


Jul 26, 2014

Chương hai mươi mốt

Ngày mai ai biết


Có vài tranh cãi nhỏ mỗi khi người ta nhắc lại cái ngày bà cô Ba Tý cất tiếng nói đầu tiên. Nếu ông nội không lãng đi chỗ khác, ông cũng chẳng xác nhận chuyện có hay không người chị đã bú cạn hai bầu sữa vốn dành cho ông, lúc ấy mới tập bò. Bữa đó cuối tháng Ba, nhưng cũng có thể giữa Chạp. Khi đứa con gái năm tuổi đầu chạy ra níu áo và nói sõi như chưa từng câm lặng từ lúc đẻ ra, cố đang quết bánh phồng ăn tết, hoặc đang cúng thanh minh ở mấy cái mả đất sau vườn. Và đứa trẻ chưa từng kêu tiếng má, bỗng rành rọt từng lời “mai con chết, má đừng buồn”.

Riêng câu nói ấy không có dị bản, ngay trong trí nhớ nhá nhem lem luốc. Lạ lùng biết bao một đứa con nít cất lên lời từ giã cuộc sống bằng những tiếng nói đầu tiên trong đời. Làm đổ ly rượu cúng, bà cố nạt, mới mở miệng là nói bậy. Nhưng đứa trẻ nhắc lại lần nữa, lần nữa, cho tới khi người mẹ khóc tru lên. Kéo nó lại chùa Nhỏ, bà lạy tới trán sưng, hai gối không đứng nổi. Sữa chảy khô còng cả thân áo trước, bà quên luôn thằng nhỏ chín tháng tuổi phải uống nước cơm đằng nhà. Hồi đầu thì năn nỉ, sau mệt quá, bà chửi um mụ nội ông trời, tổ cha bồ tát, nỡ nào con nhỏ mới mấy tuổi đầu mà mấy người lại muốn đem đi. Ngỏn ngoẻn ăn hết ba nải chuối xiêm, con nhỏ chui vô gầm ban thờ ngủ một giấc, dậy ăn thêm dĩa khoai luộc của nhà chùa, vẫn kêu đói. Nhìn con ăn cho một ngày mai sẽ không bao giờ tới, bà mẹ khóc khan.

Nhưng con nhỏ Tý vẫn sống tỉnh bơ, dù ngày nào nó cũng từ giã người thân, bằng vẻ thanh thản pha một chút nghiêm trang khi nói ngày mai mình chết. Vẻ mặt mà một đứa con nít không bao giờ có. Nửa đêm bà mẹ thường phải dậy sờ soạng coi con còn thở không, thân thể nó có còn ấm nóng. Thời gian trôi quanh bà cô Tý sánh đặc thành giọt, gần như đếm được khi chúng rơi. Ăn một bữa hai tô, ngủ đẩy giấc tới sáng, chạy chơi đâu bà cũng không quên bảo xóm giềng mai mình chết. Lỡ thật thì sao, biết đâu chút nữa nó ngoẻo củ từ, ý nghĩ đó bảng lảng ngay cả lúc người ta nạt “đừng có xạo”.

Chỉ Ba Tý tin mình sắp rời cõi tạm, khi từ chối phần đất ruộng được cố cắt cho, “Sống chỉ tới mai thôi thì vơ lấy chi cho mệt”. Cái mùng rách chỉ giăng có hai góc rưỡi giữa căn chòi cột cặm cuối vườn, chảo xoong méo mó, bà Tý đôi lúc thuyết phục được người ta tin vào cuộc đi lúc sớm mai. Hôm khâm liệm bà, gom hết tư trang trong nhà mới lưng lửng áo quan. Phải cắt lá chuối chèn cho đầy hòm, người ta nói vui để bà Tý xuống dưới giăng mùng.

“Ngày mai con chết” cũng là lý do bà quắp cứng một anh bên xóm Gò, lúc mới mười lăm tuổi. Nếu ông nội không tránh đi khi nghe nhắc tới người chị gái, chắc gì ông kể chuyện chính mình thấy bà cô Tý lăn lóc với cậu bạn trên bờ ruộng, tưởng chị bị thằng kia cướp áo, tưởng chị đau lắm mới rên ử ừ ư, xót ruột ông chạy đi méc má.

Sau này, gã trai đó hay khoe mình là người đàn ông đầu tiên của Ba Tý. Cười toe, bà nói kệ thằng chả, vui mà. Rốt cuộc, người vui cũng hơn một chục. Bà bắt cặp nhiều đến không nhớ xiết. Hồi đầu, chen giữa nỗi lo mất mùa lo chiến sự, cố còn rền rĩ đứa con gái hư thân, sau chỉ ngồi than, phải chi hồi mới đẻ đừng bôi mật cá trê cho môi nó đỏ. Mà đâu chỉ môi đỏ như cháy, đôi má bà Tý cũng rực lên, tướng mạo tươi giòn. Người như cái ngó sen, đàn ông chỉ muốn cắn ngấu, muốn bẻ làm đôi. Đàn bà thì ngược lại, ghét bứng dấu chân, nhưng có mắng chửi mấy Ba Tý cũng cười :

- Giận chi, mai cũng chết rồi.

Chút bùi ngùi làm nguôi những cơn giận dữ đổ lên đầu con đàn bà phóng túng, cả lúc cô ta na cái bụng chửa lặc lè. Ừ, biết đâu, không tự dưng lăn đùng ra chết thì cũng bom rơi đạn rớt. Thời loạn lạc, xác người vài ba bữa lại trôi cùng lục bình sông Muống, con nít nhìn theo tập thở dài. Chỉ bà cô Tý dửng dưng chiến sự, nhà cháy hay lụt chìm đồng.

Lo bom đạn không biết tới chừng nào, người ta sực nhớ tới lại thấy bà cô Tý chửa, với ai thì bà cũng không chắc. Bên nào bà cũng thương, bữa càn rát quá có người chạy vô nhà, bà giấu trong căn hầm bên dưới bộ vạc, rồi tỉnh rụi vạch áo cho con bú. Đám lính ghé vô, không sục sạo được bởi đôi bầu vú mẩy che mờ con mắt, ông cầm đầu ở lại ử ừ ư với bà một đỗi, ra về trong chơi vơi. Đứa nhỏ bú mẹ đó sau này chọi miểng chai vô đồn bị bắt, Ba Tý lội bộ tìm người cũ xin đón con ra. “Dễ ợt”, bà kể, “tui nói với thằng chả, đứa nhỏ này từng chung bầu sữa với cưng”. Hỏi sao nó nhớ, mười mấy năm rồi mà, thì bà cô cười lúng liếng, “thì có cách nhắc nó nhớ chớ”.

Vào năm bà cô Tý sáu mươi tuổi, một cậu lính kiểng đồn Chẹt cứ lẽo đẽo theo bà để rửa chân cho. Ông nội gầm gừ, chị riết rồi coi không được, thằng nhỏ chỉ đáng tuổi con cháu mình. Mai chị chết rồi, bà cười.

- Giỏi thì chết liền tui coi.

Ông nội nghiến răng, ực ngụm trà cho bớt giận. Lúc day qua thấy bà cô ngoẹo đầu bên cửa, miệng vẫn tươi. Dường như cái hơi thở cuối cùng ra khỏi đôi môi đỏ đó, nó trong veo, chói ngời.

Đám ma bà cô Tý, ông nội bỏ đi. Ông không bao giờ tha thứ cho người chị gái đã chết ngay trước mắt, sau câu nói vô tình của mình. Người ta vẫn kể đám ma vui lắm, vì những người ở lại đều đã được Ba Tý từ giã tử tế. Không ấm ức, không tiếc nuối bởi những điều chưa kịp nói, họ còn vui vì người nằm kia đã sống đã một đời. Chỉ có vụ tranh cãi nhỏ giữa vài ông tình cũ, kẻ nói trên người bà có mười bảy nốt ruồi, ông kia cãi hết thảy là hai mươi ba.