Oct 31, 2007

Mê… thầy

Nhưng tại sao lại mê thầy ?

Chắc do tâm sinh lý tự nhiên, hễ con gái thì thích thầy, con trai đương nhiên khoái cô ?

Hay vì ông thầy đầu tiên để lại ấn tượng sâu đậm quá ?

Giả thuyết đầu tiên khả năng sai cao, bởi nhiều đứa con gái bạn tôi mê cô giáo đến mức… xin hình cô đem về nhà treo. Giả thuyết thứ hai cũng không chắc, sâu đậm kiểu gì mà tên của người thầy đầu tiên tôi đã quên mất tiêu rồi. Quên gương mặt, dáng đi, giọng nói. Không biết thầy có đẹp trai không, giọng nói có ấm áp không ? Thầy có thường cười đùa hay nghiêm nghị mực thước ? Thầy từ đâu tới, người tự nguyện đến cái xóm heo hút đó để khai sáng cho đám trẻ quê nghèo, hay bị ép buộc về nông thôn cho đủ thời gian thử thách trước khi quay lại thành phố. Và, năm mười sáu tuổi, “thì” có “dậy” chút đỉnh, tôi đặt câu hỏi sau cùng về ông thầy thơ ấu đó, là “không biết thầy có… vợ chưa ?”

Những câu hỏi không một tiếng vọng. Trong miền nhớ mịt mờ, chỉ là những cảm giác lên tiếng, chúng nói, thầy bị “đày”. Vì một ngôi trường (nói vậy cho oai) chỉ có một lớp học ngó ra sông nhỏ, mấy cây cột trâm bầu sần sượng, mái lợp lá chằm đóp, bàn ghế ghép lại bằng những thân cau chẻ, gỗ tạp. Người trong xóm có gì quyên góp nấy, nên lớp học trông lởm chởm như… chổi lông gà. Những bữa mưa nhiều tụi học trò phải ngồi chổm hổm trên ghế, co rúc người cho đỡ lạnh. Trường lớp ọp ẹp, được nhúm học trò, mà tụi nó cũng ọp ẹp. Ọp ẹp theo kiểu tôi thì ốm tong teo, đen rọi đèn pin còn không thấy, theo kiểu đám bạn tôi cũng đa dạng, đứa thì ghẻ chóc đầy đầu, đứa học nửa năm chỉ nhớ được chữ O, may nhờ nhà nó chuyên ấp gà con bán, có đứa đang học bỗng chạy đi mất tiêu, lúc quay lại nó gãi đầu thưa, con đi thăm lờ, cá nhóc. Có đứa một ngày học, bốn ngày nghỉ vì bận mót lúa ngoài đồng, có đứa ghé qua học chừng hai buổi thì đi, ghe nhà nó nhổ sào rồi.

Sau này, nhớ về lớp học đầu tiên, tôi luôn hình dung ông thầy đứng gần tấm bảng gỗ bào vội, sần sùi, gió sông thổi thốc vào, lá mục bay chấp chới, chim non tao tác kêu trong những lùm cây dại bên hè. Hình ảnh thật buồn, cô đơn, hoang hoải. Nhưng là tôi tưởng tượng vậy, bởiđâu còn nhớ thầy đã từng buồn hay vui. Chỉ biết, thầy hay đến trường bằng nhiều hướng khác nhau, lúc đi ngang nhà ngoại tôi, lúc lại từ đằng kia tới, như thể thầy từ trên trời, rơi ngẫu hứng đâu cũng được. Nên có bữa tôi nán lại chờ ngoại luộc trứng chim canh chừng hễ thầy đi qua thì xách tập chạy theo, chờ hoài, ăn hết mớ trứng thì đằng trường thầy cũng dạy hết một bài. Giữa giờ chơi, thầy thả bộ tà tà lại nhà ngoại tôi uống trà, mà sao không uống trà nhà khác, tôi không hiểu. Mười sáu tuổi (lại mười sáu tuổi), tôi có một giả thuyết, ông thầy thương dì tôi, nên giả bộ lại uống trà với ngoại, để được ngó dì.

Nhưng có giả thuyết khác ít ngang trái lãng mạn hơn, là thầy cần phải gặp ngoại để tìm ra phương cách “chiến đấu” với cái tật… xé tập của tôi. Hồi đó, mỗi cuốn tập của tôi khi viết tới trang cuối thì nó còn chừng… mười sáu trang, cả thảy. Ngoài vụ đó, tôi còn nhiều vấn đề khiến “nhà trường phải phối hợp với phụ huynh”. Có lần quậy tưng trong lớp, thầy dọa, chút nữa lại méc ngoại. Báo hại lúc ra chơi phải chạy về nhà để rình, nếu thầy méc thiệt thì thủ tiêu mấy cây roi ngoại hay giắt trên vách. Bi kịch, đứng ngoài hè trò bị kiến vàng cắn tả tơi, trong nhà thầy thủng thỉnh ngồi uống với ngoại, hỏi những câu kiểu như, lúa vụ này khá hôn, chú Hai. Vào học, thầy bảo, méc rồi, về nhà bị đòn nứt đít. Tôi gãi chân, cười thầm, ông thầy nói dóc dễ sợ.

Hồi đó, chắc chắn tôi không sợ thầy, từ đó suy ra là thầy dễ chịu lắm. Thương lắm. Đến nỗi khi trở ra thị xã học tiếp, tôi nhớ mình đã viết một lá thơ gởi thầy (tất nhiên, giấy xé ra từ tập học). Rồi mấy cây cột cặm trong lớp một ngày kia được bà con trong xóm nhổ về làm củi chụm, thầy biến mất, lặng lẽ như hồi thầy tới.

Tôi lại có ông thầy khác, ông này có họ hàng bên má, vai cậu tôi. Vô lớp tôi gọi thầy, trống trường đánh cái thùng, tôi kêu cậu ơi cậu à, mà kêu lớn lắm. Cho tụi bạn nó… nể, thấy tui xấu vậy mà cũng có cậu làm thầy giáo à nghen. Hồi đó sao mà thầy cô giáo có giá dữ vậy không biết, bị tôi đem ra lòe thiên hạ, cũng thu được chút lợi, cái lợi đáng kể nhất khi có ông cậu họ làm thầy giáo là không bị bạn ăn hiếp. Hai mươi sáu tuổi, nghĩ lại thấy mình khờ, giờ thì gặp ai đáng chú, đáng bác cũng muốn gọi bằng thầy, để được xưng… em.

Hơn mươi năm ngồi chai đít khỉ ở trường, học qua nhiều thầy cô giáo, nhưng năm nào có thầy thì năm đó học được, nói chung sáng ngủ dậy có muốn… tới trường. Thầy đẹp trai thì, chậc, còn gì bằng. Có dạo, đi học vi tính, hai ông thầy đều đẹp, độc thân, đều dịu dàng, trẻ trung, khóa ấy, tôi đậu… thủ khoa (ha ha ha).

Thật tình, tôi không biết những ông thầy mà tôi mê có phải là giáo viên giỏi (cấp huyện, cấp tỉnh) không, có phương pháp sư phạm không, hiệu quả tới đâu, giảng bài có cuốn hút không, dạy có dễ hiểu không, và tôi đã nhận được những kiến thức gì, tôi nhớ chỉ vì ông thầy đó dễ thương. Những ông thầy không làm tôi sợ bằng cách buộc tôi cúi đầu vâng dạ, những ông thầy không bắt tôi phải lễ phép khép nép trước mặt mình, gò học trò vào một sự kính trọng gượng gạo. Có thể có thầy nghiêm khắc, lúc nào đó, quãng nào đó, nhưng tôi không nhớ, chỉ nhớ thầy đó y chang bạn tôi. Trong không gian trường học chật chội, tẻ nhạt với những thứ kỷ luật bó buộc, những bài học khô rốc, cứng ngắc, những ông thầy để lại trong ký ức tôi sự khoáng đạt, mạnh mẽ, dắt tôi lướt đi trên khuôn khổ, tiểu tiết.

Đó là những người đàn ông dịu dàng và bao dung, giống như ông ngoại tôi, ba tôi, đến nỗi, khi tìm kiếm tình yêu, hay bắt đầu quan hệ bạn bè, tôi luôn nghĩ tới những ông thầy của mình. Giữa thầy và trò, giữa bề trên và kẻ dưới, giữa người cho và người nhận, tôi đã nhận được sự thân ái, yêu thương, đồng đẳng giữa người và người. 

Nên nhớ thầy, trước nhất, tôi nhớ người.

Oct 25, 2007

Và khi tro bụi

Quyển sách tuyệt vời của chị Đoàn Minh Phượng đã được giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2007. Người ta đã trao giải cho cuốn sách mà mình cực kỳ yêu thích, mình sướng như chính… mình được trao giải vậy.

Chúc mừng chị Phượng, chia vui với những ai là fan của “Và khi tro bụi”.

Nổ tới Tây

Vụ này ghê nè, "Lời cho má" bằng tiếng Pháp. 

Des mots pour maman


Je ne sais plus combien il y a eu de saisons des crevettes depuis que je suis devenue une enfant-du-voisin. Ça fait combien de temps que je ne t'ai plus emboîté le pas pour partager un peu de ta peine, maman ? Depuis combien de temps n'as-tu plus l'occasion de m'apprendre la valeur de la sueur qui coule…


Ma mère est paysanne. Depuis que je prends la plume, chaque fois que j'écris sur les paysans, je pense à elle. En esprit, je vois ses deux pieds courts, massifs et costauds, les ongles des orteils corrodés, épaissis et fibreux. Son visage bistré veillant dans la nuit et, quand le vent soufflait, son inquiétude que le riz qui montait dans les rizières n'ait un épi creux. Sa chevelure toute blanche – ses enfants voulaient toujours arracher les quelques cheveux frisottés qu'elle avait, mais maman n'avait jamais le temps. Avec un groupe de solides paysannes leurs paniers de légumes sur la tête marchant à pas pressés vers le marché dans la rosée du matin. Ses deux mains costaudes avec les phalanges grossières qui vannaient le riz comme on danse, en plein midi désert. Dans la fumée épaisse réduite à une ombre assise devant la marmite en terre, avec le roussi doux de la pâtée pour les cochons. La nostalgie me remue le cœur.


Elle n'a rien de différent des autres mères campagnardes : ma mère est douce, débrouillarde, très capable… Elle aussi a des enfants qui ne se souviennent jamais de son âge, de sa jeunesse. Mais elle n'en est jamais triste ; elle ne l'est que quand je me plains – chaque fois que je reviens et m'assois sur le seuil de la porte – que le métier d'écrivain n'apporte que la solitude et la peine. Triste, maman reste silencieuse. Triste en pensant qu'elle ne comprend pas la littérature et qu'elle ne peut pas me guider, me soutenir sur ce chemin pénible. Mais elle ne sait pas qu'elle m'a beaucoup aidée.


Quand j'avais sept ans, ma mère m'a appris à planter les légumes, à arroser les plans. J'allais en trottinant couper du bois, chercher des roseaux pour que maman dresse des treillages de concombres, de courges et de haricots montants. Les après-midi tant qu'il y avait encore du soleil, il fallait biner la terre pour la préparer. Avec une lame grossière, j'écharpais la terre pour que mon père, à son retour, sème les semences de crucifères. Mes parents arrosaient avec de gros seaux, moi un petit ; l'eau débordait et mouillait tous mes vêtements. Je savais me pencher le derrière haut sur les planches jetées sur l'étang pour laver le céleri ou la coriandre chinoise que maman mettait en bottes ; son cœur était serré quand mes mains étaient blanchies de froid tandis qu'incrustés dans les crevasses de ses mains des résidus de cuisine lui faisaient mal jusqu'aux os ; pourquoi n'avais-tu jamais un mot pour t'en plaindre, maman ? Quand il faisait encore nuit, nous partions au marché ; je portais un petit panier ne contenant que des petits tabourets et quelques sacs pour exposer les marchandises tandis que maman portait sur la tête un grand panier de coriandre. Elle me demandait d'instant en instant si j'avais froid alors que le vent rigoureux du nord-est soufflait et que depuis le panier l'eau tombait goutte à goutte sur ses épaules. Je ne savais pas lui demander si elle, elle avait froid alors qu'un simple mot aurait tellement pu la réchauffer.


Quand j'avais dix ans, tout mon hameau s'est décidé pour la culture du champignon noir. Maman a essayé d'en faire autant pendant les temps morts de la vie paysanne pour augmenter le revenu de la famille. Après les cours à l'école, mon frère et moi avec ma mère faisions des kilomètres en barque pour aller acheter des fayotiers (1). Après que mon grand frère les avait abattus et ébranchés, ma mère et moi coltinions les troncs un par un jusqu'à la barque ; de peur que ce soit trop lourd de mon côté, elle les prenait presque au milieu tandis que moi, sous la légère pression de l'autre bout je croyais être forte : combien ce tronc si grand était léger ! Sur le chemin du retour, il pouvait y avoir une vanne qui barrait le passage ; il nous fallait décharger les troncs sur la rive pour traîner la barque par dessus ; s'il pleuvait fort, la vanne était ouverte et alors l'eau du canal s'écoulait comme un torrent ; elle tendait à noyer notre barque têtue qui s'efforçait de remonter le courant. Maman résistait au bout du moteur, moi, je sautais dans l'eau, tirant l'avant pour l'entraîner ; après le passage de la vanne, j'étais mouillée comme un rat ; ma mère me félicitait pour mon courage mais ses yeux étaient pleins de larmes.


La production des champignons noirs est dure en pleine saison : il faut débiter le tronc en bûches, les creuser, introduire des moisissures… Cela ne prenait pas beaucoup de temps mais suffisait pour que les épaules de ma mère soient marquées par l'écorce rainurée des troncs de fayotiers, pour que le bout de ses doigts suppure et que la main qui prenait le marteau devienne calleuse…


Jusqu'alors, à quoi que nous travaillions, nous éprouvions toujours de grandes peines, notre sueur pouvait être mesurée en pots, en jarres. Et, quel que soit le travail, c'était toujours ma mère qui souffrait le plus : mon père ne faisait que quelques travaux après ses heures au bureau. Mais maman n'était jamais triste, elle disait : il travaille pour la Révolution. À dix-sept ans, j'ai quitté l'école pour vendre riz et son avec maman. Tous les jours, maman prenait, remplissait une ou deux fois sa barque de riz depuis la décortiqueuse, la menant tout au long des canaux enjambés par les troncs de multiples passerelles pour transporter le riz chez les clients. J'étais à l'avant ; sous les passerelles élevées je relançais la barque à la perche ; quand les passerelles étaient trop basses pour le nez de la barque je devais les démonter pour laisser maman avancer. Grâce à maman, je sais que le riz Một Bụi est long, mince, chatoyant, que le riz Tiên Lùn est court, blanc comme le riz gluant, rondelet, que le riz Nàng Gáo est tout rond, très court, bombé… que plus le grain de riz est transparent plus le riz cuit est dur et sec, que le grain translucide au cœur blanc donne un riz tendre, un riz moelleux… Pour avoir traîné dans la poussière du son, j'ai l'habitude de son odeur ardente. Maman me disait que le parfum du riz au début de la saison était différent de celui du riz à la fin, celui du riz blanc de celui du riz marron ; et jusqu'à maintenant, chaque fois que je prends un bol de riz, je me souviens du goût pur, légèrement gras, délicieux, du riz cru.


Vendre du riz comporte aussi ses difficultés, mais ma mère est attachée à ce métier depuis très longtemps ; peut-être parce qu'il est lié au riz, aux champs où ma mère a travaillé toute sa vie de paysanne. Je me souviens très bien des étés où l'eau dans les canaux se retirait ; la barque ne pouvait pas naviguer dans le chenal asséché ; maman avait inventé une autre façon de transporter riz et son avec un vélo (ce qu'on était pauvre en ce temps-là !). Le sac de riz était posé le long du cadre du vélo, maman assise derrière la selle étendait le plus possible les bras pour tenir le guidon et les jambes en avant pour pédaler. Maman pédalait toute la journée sous le soleil sur le chemin raboteux. Plus tard, j'ai pu à la fois tenir d'une main le sac de riz posé sur le porte-bagage et, tandis que mes jambes pédalaient éperdument, contrôler de l'autre main le guidon qui ballottait, la roue avant ayant tendance à se soulever. Chaque fois que quelqu'un me félicitait, maman souffrait en pensant qu'elle avait laissé mes études inachevées. À ce moment-là, je ne savais pas lui dire : « Quand nous serons riches, je reprendrai mes études, ne t'inquiète pas » ; cette seule phrase aurait tant pu la consoler.


Les paroles qu'il fallait dire – à cause de mon indifférence ou de mon innocence – je ne les ai pas dites, tandis que celles qu'il ne fallait pas dire ont bien été prononcées et ne pouvaient être rattrapées. Mais il reste encore des jours à venir ; demain je rentrerai dire à maman – bien que ce soit un peu tard mais c'est mieux que rien – que si elle ne m'a jamais appris à écrire, tout ce que j'écris porte la respiration de la vie qu'elle m'a offerte.


Je ne sais plus combien il y a eu de saisons des crevettes depuis que maman et papa ont quitté la maison pour élever une cahute au milieu de champs déserts pour se démener avec les crevettes au-dessus des viviers sous un soleil de feu. Ça fait tant de temps que je passe mes matinées, mes après-midi à tourner autour de mon bureau, entre le café du matin et un verre quelque part le soir. Les mots m'échappent, les phrases me fuient. Est-ce qu'un jour je mériterai d'écrire pour maman ? Les mots que j'écrirai un de ces jours, s'ils n'étaient pas dignes d'elle, à qui pourrais-je les destiner?


Nguyễn Ngọc Tư, avril 2002

 

Oct 24, 2007

20, 21

Chị trắng trẻo, vấn tóc cao, sang trọng trong chiếc áo dài nhung đính cườm, ngồi bên phải, trước cô dâu. Em bận một bộ đồ ba ba đã cũ nhàu, khổ sở dán thân mình gầy nhom vào chiếc ghế chạm trổ tinh tế. Em cười thiu thỉu. Chị cũng cười nhưng mắt không nhìn thẳng, vẻ mặt ngượng ngập, buồn hiu.

Tấm ảnh nằm lẫn trong album cũ của gia đình. Mọi người vẫn thường giở ra xem và vẫn không hiểu tại sao cái khoảnh khắc đó chị lại buồn, bởi trong tất cả tấm ảnh còn lại, chị luôn rạng rỡ, viên mãn. Cái áo dài màu trái giếc tôn làn da trắng chị không mặc thêm lần nào nữa. Chị muốn thay nó ra ngay trong ngày cưới của con trai mình, ngay khi đứa em mà chị kéo từ dưới bếp bên cứ bần thần chùi cùi tay vào vạt áo, “chụp hình chi không biết, chế coi, tui ăn mặc xấu quá chừng…”. Chị gạt ngang, ấn em ngồi vào ghế, cảm giác em lọt thỏm ở đó, nhỏ nhoi, tự dưng chị nghe xương vai của em nhọn sắc buốt tay mình. Người thợ ảnh bảo mọi người cười. Chị không dám nhìn vào cái ống kính đen ngòm, nghẹn thở bởi cái áo mà mình đang mặc, bởi cái ghế mình đang ngồi, bởi sự viên mãn mà mình đang có.

Bởi em đang ngồi cạnh chị, già nua, khốn khó. Chị mua gởi cho em nhiều bộ quần áo mới, sau đám cưới đó. Lâu lâu về quê, thấy mớ đồ vẫn xếp trong tủ, nhãn mác còn nguyên, nhưng chị không thể cất tiếng quở rầy, vì em ướt mẹp từ ngoài đồng vô. Em giăng lưới cá, được chừng chục ký, loại cá rô phi nhỏ chừng hai ngón tay khép, xách tới chợ xã bán được mỗi ký hai ngàn. Tay em nhiều vết xước do bị vây cá đâm. Từ chợ về em đi sạ mớ lúa giống đã lên mầm trắng xóa. Tối lại em chong đèn làm sạch mấy thùng cá, ủ mắm. Em ngồi miết bóng vào đêm, mấy cây nhang muỗi vẽ những đường khói cong cong, gió lọt qua vách làm khói bay dùng dằng đâu đâu.

Khói cũng không bao bọc lấy người. Rời rạc. Khói của hiện đại, mà em thì cũ. Khói này của chị, như cái ti vi kia của chị, như mấy bộ quần áo đẹp kia của chị, nên chúng chỏn lỏn trơ khấc giữa căn nhà em, thấp và tối, ẩm ướt hơi đất, ngai ngái mùi lá mục.

Đó là cái bìa bọc lấy quyển từ điển đời em. Mỏng lắm, chỉ vài trang ít ỏi đề mục ít ỏi. Lấy chồng. Sinh con. Bầy đàn đông đúc. Quanh quẩn ruộng vườn. Làm lụng. Mồ hôi. Đứt tay. Hết gạo. Giăng lưới. Đặt lờ. Trồng tưới. Chợ khuya… Em đã đi gần hai phần đời bằng những từ nhọc nhằn đó, phần đời còn lại, em chỉ còn chữ Thiệt thòi, ở trang cuối.

Chị đã từng thêm vào cuốn sách em những Son môi, Giày da, Đi du lịch, Xem phim… nhưng chúng cứ rơi khỏi đó, hay em tự rời ra. Chúng quá rực rỡ và sang trọng trên cái nền giấy lem nhem loang nước. Và vô vọng, xa xỉ hơn là Bức tranh, Tiệc tùng, Ngắm mưa, Quán cafe...

Bù đắp cho đứa em nghèo, nhiều lúc chị sắm sửa cho em thật nhiều để rồi nhận ra lấy tấm áo của mình đắp lên em thì cũng không thay đổi được gì. Cái ti vi màu chị tặng vẫn nằm im lìm trong căn nhà chưa có điện. Tiền của chị dúi vào tay em không thể dùng để viết chữ “khám sức khỏe định kỳ” hay “máy rửa chén” vào từ điển của mình. Mỗi người phải sống cuộc đời riêng. Vài lần, giữa buổi tiệc bàn tay cầm ly vang Pháp của chị đã run khẽ khi đứa con gọi điện thoại, dì ra chợ bán trầu, ghé nhà mình chơi. Tay chị run như cái sức nặng của giỏ trầu đang treo lủng lẳng trên đó. Giá của chúng, chắc chỉ bằng ly rượu sóng sánh này.

Nhìn lại tấm ảnh lạc lõng, rơi ra khỏi chuỗi hình ảnh hào nhoáng của tiệc cưới, chị thấy không phải chỉ cách nhau hai cái tay ghế. Không phải chỉ khác nhau màu áo, màu da. Chị đã đi quá xa, đã hút bóng.

20, 21, ai cũng biết chuỗi số đó liền nhau, nhưng với chị và em, nó cách hàng trăm năm. Em còn mãi ở nửa thế kỷ trước, chị đã ở đầu thế kỷ này. Người ở lại 20 ngóng nhìn và hy vọng, kẻ 21 thì ngoái lại thấy thương, nhưng tầm nhìn đã xa lắm, sự xót thương chỉ là mường tượng, một cảm giác trách nhiệm mơ hồ. Chị không thể quay lại và em cũng không thể nhanh hơn. Ngày còn gần gủi, lâu lâu chị đứng chờ để dắt em theo mình một quãng, em được chị tặng cho mấy chữ Ăn sáng, Karaoke, Mua sắm… mà em nhắc hoài, nhớ hoài, vì thấy gì cũng tốn nhiều tiền, mắc xót.

Nhưng giờ thì không còn nhớ cái cảm giác những ngón tay chị và em đan vào nhau ngày đó. Giờ thì tấm ảnh cũ của gia đình không còn gây buồn, vì người ta đã nhận biết một cách bình thản, nếu chụp ảnh dãy phố này, khu phố này, thành phố này, hay vùng châu thổ này… thì sẽ nhìn thấy những khoảng cách, những vết cắt, những từ điển nghèo nàn của người còn ở lại thuở 20.

Những tấm ảnh ma mị, ta thấy ta đứng cùng một không gian thời gian nhưng kẻ trước người sau, ta thấy ta đứng chung nhau mà không hề đứng chung nhau, ta thấy rõ ràng ta nắm tay nhau nhưng ta đã không nắm tay nhau từ lâu lắm.

Oct 22, 2007

Đâu cũng phận người


Buồn bã giữa ngàn du khách lại qua...


lạc lỏng giữa một bãi đậu xe đông nghịt...


tuổi già muộn phiền...


lọt thỏm giữa những cao ốc...


ngụp lặn trong cái lạnh cắt da...


nhọc nhằn làm đẹp cho đường phố...


mệt mỏi ...

Sao mà nhỏ nhoi vậy, phận người ơi !
Cũng giống như đất nước tôi, bóng người nghèo, người lam lũ như dấu chấm than cặm vào dòng đời, neo mãi.



Oct 21, 2007

Cho buổi cafe với Ng

Nón và người


Tôi nhớ, khi ngồi ở cái quán cafe trong một tối Sài Gòn nóng nực, chúng ta nói tới những cái nón. Không phải nón vải có viền đỏ dơ èm của tôi, hay nón lưỡi trai mà bạn hay dùng để che mớ tóc hoang dã, bù xù của mình. Chúng ta nói về những cái nón ai đó cố đội cho chúng ta. Đó là những cái nón đẹp, và mỗi loại nón, có cả một hiệp hội Ai - Ai - Đó đội rồi, như một thứ đồng phục của nhóm. Như để tìm nhau, như sợ lạc nhau. Khi tự giới thiệu về mình, hay trong cách bày tỏ quan điểm về một sự kiện, Ai Đó khéo léo cho thấy, tôi thuộc nhóm đội nón tai bèo (hay nón lá, nón cao bồi rộng vành kiểu cao bồi…). Và với loại nón mà Ai Đó đang có, ngay lập tức điều chỉnh ánh nhìn của đám đông, một số thân thiện làm quen, một số bĩu môi, nguýt dài quay đi, số khác nữa vô cảm lướt qua. Cái nón, như một phương cách nhanh nhất để thấu thị tấm lòng nhau giữa xã hội bộn bề. Mỗi người được bảo đảm quyền đội nón, nhưng bi kịch cho chúng ta, hai đứa đen đúa trong quán café nhạc jazz tối ấy, là chúng ta không muốn nón. Chúng ta thú vị, thấy mới mẻ, thấy xốn xang trước những cái nón nhiều màu sắc lung linh giữa con đường mà chừng hai mươi năm trước nón chỉ có bàng bạc một màu. Nhưng đó là khi ở trên đầu Ai Đó, chúng ta không thích nó ở trên đầu mình. Bởi chúng ta không cần nón. Tóc chúng ta cần tự do, da đầu chúng ta cần thở. Nhưng hiệp hội nón lá, hay làn sóng nón cối không thích vậy, họ buộc chúng ta phải chọn một trong những cái nón đó. Họ sợ cô đơn, sợ cái nhỏ nhoi của thân phận người trước cuộc đời rối rắm. Họ biết sức mạnh của đám đông, sức mạnh khủng khiếp đã làm nên bao nhiêu cuộc cách mạng lớn. Một bữa, họ nhận chúng ta thuộc về họ, hiệp hội Nón Lá, bởi vì chúng ta viết gì đó, nói gì đó thấm đẫm tư tưởng Nón Lá, xót xa những bi kịch Nón Lá. Trong lúc chúng ta vắt óc coi mình thực sự có ý đội nón lá hay không thì làn sóng nón cối kêu lên, thằng nhỏ ấy và con bé đấy là người của chúng tôi, lý do họ đưa ra làm chúng ta ngỡ ngàng, vì chúng ta bị kẻ thù của họ tát một cái. Lý luận theo kiểu vầy, A từng đánh B, nên C bị A đánh nghĩa là B với C là một.Và chúng ta lại mất nhiều thời gian để nhận ra, nón cối cũng chẳng để làm gì giữa thời buổi này. Mắc công giữ. Mắc công thấp thỏm sợ mất. Mắc công những Ai Ai Đó thuộc hiệp hội các loại nón khác ghét bỏ, lườm nguýt, tấn công mình. Mà đời này quá chừng buồn, tìm thêm người thương chứ ai lại mong bị ghét. Cộng thêm một hệ lụy khác, là mất tự do trong cái nón của mình, cả Hội Nón Cối, được xem là những người tiên phong cho việc tìm kiếm tự do đang chẳng tự do tí nào. Khi anh quay cuồng nghĩ về tự do thì đầu óc anh đâu có tự do bởi đang bị buộc chân ăn quẩn trong hai chữ “tự do” mất rồi. Nhưng cái điều quan trọng nhất, là khi chúng ta thốt ra một câu được xem là “có vấn đề”, hoàn toàn vì hồn nhiên, vì nghĩ sao nói vậy, vô ưu vô lo. Rủi thay, nó trùng với tư tưởng của hiệp hội nón nào đó, chúng ta được tung hô, được Ai Ai Đó rùng rùng chạy lại, đội nón cho ta. Họ cần thêm người, thêm sức mạnh, thêm tự tin. Họ thấy khó chịu vì hội nón đối lập kia đông người hơn bên mình, quyền lực hơn bên mình, tiếng nói của họ có trọng lượng hơn bên mình. Từ chối một xã hội đồng phục để tìm kiếm một xã hội đồng phục khác ?!Chúng ta buộc phải chọn cô đơn, vì không thể ghi trong lý lịch đời mình một câu buồn thảm thiết, “trước khi là một cái giá treo nón tôi từng làm con người”. Vì không nỡ nhìn cái cảnh Ai Ai Đó đem nón của nhóm mình đến ta bằng một niềm hy vọng, yêu thương chia sẻ, để một ngày thất vọng não nề, trời đất ơi, sao không nói như vầy mà lại nói như vậy.Nói như vầy mà không nói như vậy là chúng ta nghĩ như vầy chứ không nghĩ như vậy, vì chúng ta đang ở trong cái tâm thế không có nón nào trên đầu. Nhưng có phải chính cái ý nghĩ đó của chúng ta đang tạo ra một thứ nón mới, trong suốt, ta đang đội nó mà có vẻ như không đội. Chỉ khi nào ta không còn nhìn thấy những cái nón, không có ý nghĩ nào, hay không có khái niệm về nón nữa, lúc đó, ta thực sự tự do.Liệu lúc đó, ta còn bạn bè không, khi vài người đã rời đi, chỉ vì bạn cảm thấy ta đang đội loại nón mà bạn không thích, hay bắt gặp ta uống nước mía ở vỉa hè với nhóm người sùng bái nón nào đó. Ngày xửa ngày xưa, chúng ta thương ai đó, nhớ ai đó vì chúng ta thấy anh chàng này (hay cô nàng này) hay hay, dễ thương, chơi được. Ngày xửa ngày xưa, chúng ta nhìn nhau bằng phần NGƯỜI, trước hết.

Oct 17, 2007

mang sang

À, là mình chuyển cái "sổ tay" sang chế độ "riêng một góc trời" (một mình mình coi) nên có vài bài mình mang sang đây. Xin lổi vì từ đây giấu biệt vài comment của các bạn đã để lại trên "sổ tay".

Thuộc về “chúng”

Tôi vẫn còn giữ cái thói quen hồi còn ở với ba má, ít đi đâu vào những ngày lễ lớn, như Quốc Khánh hay dịp 30/04. Ở nhà và… xem ti vi. Bởi những bộ phim tài liệu hay chỉ tập trung chiếu vào những ngày này. Mà một người trẻ như tôi chỉ có thể tư duy về chiến tranh những thước phim quý giá đó, của cả hai phía, dù hình ảnh phim có mờ, nhập nhoè. Trước khi trở thành một người Việt Nam viết văn, trước khi chạm tới cái gọi là nỗi đau, tôi phải biết chiến tranh là gì cái đã.

Và những hình ảnh trầy xước củ kỹ, tôi xem hàng chục lần, tôi thuộc lòng từng đoạn nhưng cứ mỗi năm, tôi lại nghĩ ra một ý nghĩ mới về chiến tranh. Năm nay, trước những thước phim xước, tôi nhớ tới Ng, tới T, những người bạn viết đồng trang lứa, con của những người cha từng ở phía bên kia.

Bạn tôi, rất già, là tôi cảm giác vậy. Vì bạn nhận thức về chiến tranh ngay khi biết thế nào là cây cà rem ngọt lịm, thế nào là một ngày vui vẻ… Không vì công việc nào đó (cụ thể như tôi, là viết lách) mà phải đi tìm hiểu chiến tranh. Chiến tranh ngay trong bữa cơm, trong những bẩn chật của cuộc sống, trong cử chỉ đầy định kiến của người đời, trong ánh nhìn khắc nghiệt của đám đông. Và bạn bè tôi đã đi lên, đã giỏi giang bất chấp những gánh nặng vô hình chồng chất lên vai. Những cuộc tình, những sáng tối café, những công việc tất bật, những sáng tác mới đã làm cuộc sống của bạn trở lại bình thường, ít ra, bình thường trong mắt tôi.

Cho đến một ngày cuối tháng 4 mỗi năm, cho đến những bộ phim tài liệu loang lổ, cho đến khi lịch sử được nhắc lại, “chúng tàn sát đồng bào”, “chúng tra tấn dã man”, “chúng điên cuồng trả thù”, “chúng thất bại thảm hại” “chúng sụp đổ hoàn toàn”…

Ở nơi xa xôi nào đó, những người cha của bạn bè tôi, những người đã từng cầm súng ở phía bên kia ngậm ngùi.

Ở nơi xa xôi nào đó, có những người bạn tôi, tài hoa, giỏi giang, thành đạt cũng ngậm ngùi.

Mãi mãi, họ thuộc về “chúng”. Và đó là chiến tranh. Chấp nhận những vết thương mãi mãi không hàn gắn được

Mưa trên điểm gãy












Vọng Bắc...

Tôi dừng chân ở một cuộc trình diễn nghệ thuật sắp đặt lớn mang tên “chia cắt”.


Oằn những nguyện cầu...

Người ta dựng mảng rào ở cuối một nhịp cầu nhỏ, trên đó, họ buộc oằn những mảnh vải bạc màu. Chữ trên hàng triệu mảnh vải cũng phai những lời khấn nguyện hòa bình, sum họp, những dòng nhớ thương khắc khoải. Một cây cầu khác rơi mất nhịp ở hai đầu đứng chơ vơ trên cánh đồng hoang vắng trãi rộng đến một con sông, bên kia sông là dãy núi xa mờ.


chuyến tàu dang dỡ...

Một tháp chuông với những cái diềm mái trang trí theo kiểu cổ, vài đại tự bản xứ mang nghĩa “Hòa Bình”. Một đầu tàu kéo theo mấy toa hiu hắt hướng về Bắc. Đài quan sát hướng dãy ống nhòm về Bắc. Những ánh nhìn vọng phía Bắc… Trong vòm cây, bài hát thương nhớ Bắc réo rắt nao lòng. Và như một chi tiết tinh tế trong cuộc trình diễn đó, vài em bé thót người, nhón chân, đu trên cái ống nhòm. Tôi đứng giữ máy ảnh giữa mưa rơi lắc rắc để ghi khoảnh khắc em nhìn về phía núi. Bỗng thấy cuộc trình diễn này biến tôi thành một chi tiết của nó mất rồi. Thấy mình là một cây kim trong cái la bàn, cũng ngẩn ngơ đau đáu run rẩy về Bắc. 


cây cầu dang dỡ...

Dưới đồi, hồ nước nhân tạo mô hình bản đồ đất nước Triều Tiên (trọn vẹn) bị mùa thu trải sương mưa lên mù mù, ủ ê, lạnh buốt. Có thể mưa cũng là chi tiết trong cuộc sắp đặt. Như tôi, như những em bé kia, như hàng ngàn người có mặt ở đây trong ngày thu buồn bã này. Cảm giác mưa cũng gãy, cũng bị chặn lại ở bên kia núi, bên kia biên giới.


tháp chuông câm lặng...


Người ta làm mọi thứ trông thật, tinh tế, đến từng chi tiết nhỏ. Cả hàng rào kẻm gai, cả người lính canh đang khép cổng cũng làm cơn đau nào đó cuộn lên trong tôi. Sắc nhọn. Của một cánh đồng không gieo trồng, một dòng sông không trẻ chăn trâu trầm nghịch, một cây cầu dang dỡ, một đoàn tàu đã hơn năm mươi năm không lăn bánh, tháp chuông cũng từng ấy năm chưa được ngân lên hai tiếng hòa bình. Ở đây, dường như không có cái gì sống đúng bản chất của nó, kể cả những con người - chi - tiết đang có mặt ở nơi này, cũng kìm nén, ấm ức, ngột ngạt. Cũng buốt nhức cái nỗi niềm nhớ thương những người thân mà không được gặp. Cũng thấy cái biên giới này là một vết thù vô lý, nhưng không ai biết cách, không ai dám vượt qua, và chấp nhận sống cùng nó, đau đớn cùng nó.

Cuộc trình diễn bắt đầu từ năm 1953, nửa thế kỷ sau, khi tôi đến, bối cảnh có nhiều thay đổi. Một khu vui chơi giải trí được dựng lên. Dãy hàng quán bán thức ăn và đồ lưu niệm. Người bạn tôi ái ngại, xây công viên làm chi vậy trời, chỗ này đâu phải chỗ chơi. Ai lại vui chơi trên chính vết thương hở miệng của dân tộc mình ?!

Nhưng người ta vẫn sắp đặt ở đây những nụ cười, những tiếng reo vui. Nhiều đôi trai gái thầm thì yêu thương trên ghế đá cạnh lối đi. Đám trẻ con chạy giỡn bên đài phun nước. Vài gia đình bày thức ăn trên bãi cỏ quây quần dùng bữa chiều. Và những chi tiết sắp đặt này vẫn sắc nhọn, gây đau như mảng rào cầu nguyện, hay dòng sông, cánh đồng…

Vẫn nằm trong một kịch bản xót xa về những lát cắt, giữa quá khứ và hiện tại, giữa nhớ và quên, giữa chiến tranh và (ảo tưởng) hòa bình. Đâu đó, người ta bắt gặp cảnh đứa cháu gái đang lim dim mắt ngún nguẩy theo điệu nhạc từ cái ipod đeo trên cổ trong khi người bà lụm cụm đang níu mãi cái ống nhòm nhìn về phía núi, bên kia dãy núi đó, có những người thân thuộc ruột ràng của bà, có một phần đất nước. Cô gái trẻ không quan tâm điều đó, cô hoàn toàn không có ký ức với những gì thuộc phần đất xa xôi kia. Tôi cũng không, nhưng vì tôi liên tưởng đất nước từng bị chia cắt của mình nên mới thẩn thờ.


Bởi tất cả đã khép chặt rồi...

Chiến Tranh, kẻ bày ra trò sắp đặt này, cùng với những kẻ phụ việc mang tên Tham Vọng, Định Kiến, Thù Hận… ít nhiều đã thành công. Người ta đến đây, tự biến mình thành một chi tiết cho cuộc trình diễn nhói đau, tự mình là nhựa, ứa ra trên điểm gãy của cành. Sông là dao, núi là dao, và cánh đồng, cây cầu, mảng rào, cánh cổng, con tàu đều bén ngót, cắt ngọt.

Toàn vẹn lãnh thổ vẫn chỉ là mơ ước...

Giữa cơn mưa chiều, tôi buộc mảnh ý nghĩ của mình lên mảng vách oằn những lời thương nhau, với nguyện ước, cầu mong những dòng nhựa ứa đau dai dẳng cho cuộc chia cắt này sớm một ngày khô. Đồng loại tôi kéo chéo áo mà lau nước mắt sum vầy.

Tôi ngoái nhìn lại tác phẩm gợi nhiều cảm xúc của Chiến Tranh, tôi biết những hình ảnh xao xác đó không xuất phát bởi tấm lòng người nghệ sỹ, bởi nghệ sỹ chẳng bao giờ lại nhẫn tâm gây đau cho đồng lọai của mình. Nhưng nghệ sỹ mang tên Hòa Bình bao giờ mới đến ?!




Oct 14, 2007

Ha Jea Hong trên... nóc nhà






Đây là chân dung của anh Ha Jea Hong trên nóc nhà của bố mẹ anh. 
Và một góc miền quê Yangsan, ngoại vi Pusan. Nhìn nhớ nhà bà cố luôn. 









Bài phát biểu tại Hàn Quốc

Lớn lên từ những ngộ nhận

Làm sao giải thoát được sự cô đơn, làm sao nói với nhiều hơn một người, tôi tự hỏi mình câu hỏi đó khi bắt đầu tuổi mười tám trên một mảnh vườn thênh thang vắng rợn bóng người. Những năm sau đó thật là dài, như vô tận, với một đứa trẻ luôn cần sự sôi động. Và tôi viết văn. Câu hỏi mà những người thân đặt ra khi nhìn thấy những trang viết đầu tiên của tôi là “tại sao con viết văn ?”. Tôi bảo rằng, tại con buồn.

Đó là ngộ nhận đầu tiên của tôi về nghề viết, tôi tưởng viết là sẽ không cô đơn nữa. Nhưng cô đơn là sự tối cần của người viết, nó là một điều kiện hàng đầu của nhà văn. Không một người viết hay nào tôi biết mà không cô đơn, không một thần tượng văn chương nào của tôi mà không bị cô đơn giày vò. Và để chạy trốn nỗi cô đơn trong giao tiếp đơn thuần mặt nhìn mặt, tay nắm tay, việc viết văn đã dẫn tôi đến sự cô đơn khác, đó là ở giữa đám đông mà họ không thấy tôi, hoặc họ thấy một cái gì đó giống tôi, họ tưởng là tôi, nhưng tôi đang đứng ở một chỗ khác, một mình, chờ một nhịp tim đồng cảm. Khi người ta bằng mọi cách chạy trốn sự cô đơn thì tôi, và những đồng nghiệp của tôi lại nuôi cô đơn, cho nó ăn để duy trì sự cô đơn tồn tại trong người mình cho cái gọi là sáng tạo văn chương.

Với lý do đó, tôi bắt đầu một ngộ nhận khác, rằng văn chương là công việc đơn độc, đó là công việc thuần túy cá nhân, ít ảnh hưởng đến những người chung quanh. Nhưng khả năng tác động của văn học với mỗi độc giả đã dạy tôi rằng, một khi tác phẩm đến với bạn đọc, nó không còn là của tôi, và tư duy theo cách của tôi nữa. Mỗi người đọc có một cách nghĩ khác nhau. Nhà văn luôn ở trong tâm thế của một người mẹ phải đưa đứa con ra đường, và để cho nó tự sống, được nâng niu hay ruồng rẫy, được chăm sóc hay chà đạp, bà mẹ không thể làm gì, bởi đứa con đã vượt ra khỏi tầm tay bà. Một người viết dấn thân luôn gặp phải va chạm giữa những tư tưởng, những kiểu hiểu và hành xử khác nhau. Đó là công việc không an toàn chút nào, nó đầy rủi ro, bất trắc. Người viết cũng là một người lính. Tôi hoàn toàn thích cách ví von này, nó làm cho tôi có được một lý do để yêu nghề.

Bởi tôi đã tưởng mình không yêu thích, không đam mê viết. Tôi chỉ nghĩ, đó là một nghề sống được, như người thợ máy, như người thầy giáo, như một viên chức mẫn cán... Tôi sẽ rời bỏ công việc này khi nào tôi không thích nữa. Nhưng văn chương đã ở bên tôi vào những lúc mệt mỏi và kiệt sức nhất, những lúc tôi hạnh phúc, thăng hoa nhất. Và giữa lúc này đây, ở giữa các bạn, những người thuộc một quốc gia khác, với một văn hóa chính trị khác với đất nước tôi, tôi thấy mình yêu công việc sáng tạo văn chương hơn bao giờ hết, yêu vì ngạc nhiên trước khả năng chia sẻ của văn học, đã vượt qua khỏi những biên giới địa lý, những rào cản ngôn ngữ, những khác biệt của lối sống. Tôi vốn là người hay xây những bức tường quanh mình, bỗng một ngày nhận mình cũng có khả năng bắc một nhịp cầu. Và tôi có thể đến với người, nếu muốn.

Tôi sinh sống ở vùng đất Nam Bộ, và những tác phẩm của tôi đều viết về đất và người Nam Bộ. Mảnh đất cuối cùng của đất nước tôi hay mang một cảm giác nhược tiểu của vùng đất mới khai phá, không có cái nền văn hóa dày và sâu, nằm xa những trung tâm văn hóa kinh tế lớn, giáo dục, đặc biệt là văn học ít có thành tựu, không được đánh giá cao trong giới cầm bút, trong những tổng kết của văn học Việt Nam. Bất cứ người viết văn nào xuất hiện ở vùng đất này đều được sự đón nhận nồng nhiệt, tôi cũng vậy. Được xem như một đặc sản của miền Nam, một người viết Nam Bộ thuần túy, nhận nhiều kỳ vọng của mọi người, đặc biệt là đồng nghiệp, tôi sung sướng, và thấy hài lòng, mình đã làm việc đó cho quê hương, cho mảnh đất này.

Nhưng sự trải nghiệm của tuổi tác, của thời gian đã làm tôi nhận ra, những gì tôi viết là không gian của riêng tôi, của sự tưởng tượng và sáng tạo. Những đất ấy, người ấy, tôi chỉ mượn cái hồn cốt, giai điệu của Nam Bộ để chuyển tải. Thổ ngữ địa phương chỉ là phương tiện thể hiện ý tưởng và câu chuyện của người viết. Chúng được mọi người xem là phong cách riêng của văn tôi. Nhưng thực chất đó chỉ là một lớp vỏ, tôi muốn bỏ qua cả lớp vỏ đó, để tận mắt thấy trên mảnh đất này, người đời đang lạnh hay ấm, vui hay đau qua làn da, qua từng vết tím, từng cái se lại của lỗ chân lông, thấu thị tận tâm hồn, như một người hành hương về chốn tâm linh không cần bất cứ phương tiện hiện đại nào, chỉ bằng đôi chân trần. Những gì tôi viết, tình yêu, sự dối trá, thù hận, sự tha thứ, hay trả thù, tôi tin rằng chúng xảy ra ở bất cứ vùng miền nào trên trái đất này. Bởi đâu đâu cũng những thân phận, những số phận con người.

Nghề viết, văn chương vốn gây nhiều ngộ nhận, ngộ nhận liên tiếp ngộ nhận. Ngộ nhận ngay từ trên tác phẩm, tưởng chỉ là con chữ nhưng bỗng đâu nhân vật với đầy đủ xương thịt sống động mỉm cười. Tỉnh ra là sự thất vọng bàng hoàng giữa ý tưởng và thể hiện thực tế; giữa cuộc sống bề bộn nóng hổi và sự xa lạ lạnh lẻo của trang viết; giữa thực tài và mơ ước, khát vọng văn chương; giữa cái cảm giác của một người viết ra tác phẩm và của một người đọc để nhìn nhận nó theo cách khách quan.

Tôi luôn tự hỏi, mình đã đủ tỉnh táo chưa, đầu mình đã đủ lạnh chưa cho một trái tim quá nóng ? Những trang viết này có làm mình xấu hổ không, có đi vào lòng người không, có khiến người ta nhớ không? Những câu hỏi đặt ra chỉ là cách để tôi không phải vướng vào một ngộ nhận sơ đẳng nhất, nhưng dễ giết chết người viết văn nhất, đó là ảo tưởng về mình. Tôi sợ mất mình, sợ lạc mình ở một nơi mà cả đời không tìm lại được vì tưởng mình đã ở quá cao. Thực tế, trong văn học không hề có đỉnh cao nào, và tôi chỉ là người viết cô đơn ngơ ngác bên chân núi.

Chỉ cần giữ được mình, dù thời gian tiếp nối, những ngộ nhận cũng tiếp nối, lên một bậc thang, ngoái nhìn bên dưới, tôi sẽ nhìn rõ hơn con đường mình từng đi. Nó in hằn những bước chân lúc thẳng, cương quyết, lúc chuệch choạc, ngập ngừng.

Ngày mai, khi nghĩ về những gì tôi phát biểu trong cuộc gặp gỡ này, rất có thể tôi sẽ tự cười mình. Bản thân tác phẩm của mỗi người viết văn đã nói lên nỗi buồn, nỗi cô đơn, tư duy sáng tạo, cách nhìn cuộc sống… diễn giải bản thân ngoài phạm vi tác phẩm, mong nhận được sự đồng cảm của các bạn, có thể sẽ là một ngộ nhận khác.

Sự quyền biến sâu thẳm của công việc viết văn khiến tôi có những giấc mơ dại dột của riêng mình và khi tỉnh dậy, tôi luôn thấy mình lớn lên.