May 31, 2008

cứu rỗi...

Ít nhất là cứu rỗi cái blog Sầu Riêng này, lúc rày toàn những entry buồn...


hoa ban


hoa lựu


Hoa mận


Hoa tường vi


Hoa nguyệt quế




Dừa cạn


Bông giấy trước khu hang động - bệnh viện thời chiến ở Xiêng Khuang



May 28, 2008

Cúi xuống là đất




Trước và sau xóm....

Xin lỗi các bạn, vì định post ảnh lên, rồi chú thích ngay nhưng blog bị chặn không vào được (nếu trèo tường lửa vào thì không thay đổi được nội dung) nên để các bạn thắc mắc, Khánh Hội ở đâu.


Những cái xóm nhỏ nằm ở chợ Khánh Hội, một cửa biển khá sôi động của U Minh. Cúi xuống là đất, nhưng người dân sống trong những cái xóm như thế này không có đất. Những cuộc đời tạm bợ và lây lất, sống bằng đủ mọi nghề, làm bất cứ gì miễn được thuê. Đi biển, đào đất, lột tôm, mực trong các cơ sở chế biến nhỏ, buôn gánh bán bưng, quét rác, nhặt phế liệu…

Cúi xuống là đất, nhưng đất là một cái gì đó rất xa vời. Ở thuê, ở trọ, trên những mảnh đất không phải của mình, họ đã mất cảm giác đất.




Rách nát và rách nát...


Lối đi lầy lội…



Câu đố đóng đinh vào lòng người mỗi sáng, hôm nay sẽ làm gì để có vài chục ngàn ít ỏi ăn qua bữa. Gạo cá đang lên giá…



Niềm vui của em bé này tùy thuộc vào mâm bánh bò còn nhiều hay ít, sau mỗi buổi chiều…


Anh Đỗ Văn Bình, lập gia đình đã 35 năm, 35 năm không có cục đất chọi chim, đã dời nhà 4  lần trước khi bắt tay sửa sang lại căn nhà này cho những ngày tạm bợ mới…



Gọi nơi ở của chị Thái, một người bán bánh dạo như thế nào cho phải…


Công việc vệ sinh cả một khu chợ không phải là nhẹ nhàng với một thương binh đã lớn tuổi như chú Nguyễn Văn Quang...


May 26, 2008

Tôi đã thấy…

Các anh nhà báo mắng nhiếc và cạnh khóe nhau.
Tờ báo này cố gắng phủ nhận, nói ngược với tờ báo kia ở một vấn đề nào đó, họ tự hào là phong cách riêng, cái nhìn mới.
Và người ở báo này thì lườm nguýt người báo khác. Cho thấy trong lịch sử họ luôn không yêu nhau nhưng họ lặng lẽ để trong lòng, vì họ thấy rằng, chúng mình trên một chuyến xe. Nhưng bây giờ đã khác…
Tôi mừng vì biết được nhiều chuyện mà tôi không biết.
Bạn đọc mừng vì có được thông tin đa chiều.
Nhưng kẻ mừng hơn, đang ung dung rung đùi, là cái anh Ban Bộ Vụ, những chiếc đũa đang tự nguyện gãy, trong khi anh ấy đang tìm cách bẻ gãy bó đũa. Đỡ hết biết, khỏi mất công.
Anh Tham Nhũng cũng mừng, khi những đối thủ khó chơi nhất của anh bây giờ đang bận xoắn tay áo chuẩn bị lao vào nhau.
Tiếp tục đi mấy anh, sẽ thêm nhiều kẻ khác nữa, đang thầm mừng…

May 25, 2008

“Sỏi đá buồn tênh”





























Những ngày đi dưới mưa thu ở Jeju, tôi thường nhớ người bạn vong niên ở Cần Thơ. Tôi với ông đều đam mê đá. Lý do có lẻ khác nhau. Tôi mê đá bởi nhìn thấy một chút mình trong đá, tồn tại tự nhiên, cứng cỏi, thô mộc phơi mình trước nắng mưa miên viễn, nhưng người yêu đá sẽ nhìn thấy ở nó sự dịu dàng. Và đó là tri âm. Ý nghĩ này đeo đẳng khi tôi nhìn thấy núi lần đầu. Giờ thì yêu đá hơn hoa. Mà, Jeju thì toàn đá và đá, muôn trùng đá. Ở giữa bữa tiệc đá, trong cơn say ngây ngất, tôi ước gì bạn cũng ở đây.



Hình thành sau đợt núi lửa phun trào hàng triệu năm trước, nên Jeju được cấu tạo từ dung nham và tro bụi, đá trên đảo thẳm một màu đen. Màu đá gợi lên sự huyền bí, dịu dàng, và một chút gì đó buồn bã, hắt hiu. Ngồi trong quán ăn bên đường, ngó mưa miên man nhỏ xuống một bờ rào đá, tôi có cảm giác, chỉ chút nữa thôi đá sẽ mềm nhão ra như đất ở quê mình.



Nhưng mưa đã triệu năm rồi, đá vẫn vĩnh cửu trên hòn đảo xinh đẹp này. Đâu cũng đá, mở mắt ra chưa thấy người đã thấy đá. Đá xếp làm rào quanh những vườn quýt trĩu quả, đá hờ hững gá lên nhau ngăn những thửa đất cây cỏ xanh mầm, đá quây lấy những đồng cỏ chăn thả ngựa. Đá xếp làm tường nhà, làm biển hiệu quán ăn, làm cọc tiêu những con đường dọc bờ biển và cả một công viên đá rộng hơn 2 hecta… Jeju “đãi” người yêu đá đến no căng, ngây ngất. Trong những khu phố sầm uất vẫn thấy đá nằm ở chân tường và những bức tượng Hareubang, mà anh bạn Ha Jae Hong chuyển qua Việt ngữ rất nôm na là “ông bác đá” làm cả đoàn cười nôn ruột. Ở đâu cũng thấy “ông bác đá” này, ven đường, bãi biển, trong những cửa hàng bán đồ lưu niệm… miệng cười nhẹ mơ hồ, mắt to, mũi to, hai tay đặt trước bụng, an nhiên.



Trông bức tượng vị thần đá rất hiền hậu. Sự hiền hậu toát ra từ đường nét đục đẽo giản dị, từ cái màu trầm mặc của đá. Góp phần cho một Jeju yên ả, thơ mộng và sâu lắng, đá làm dịu lại sắc vàng quýt chín, sắc đỏ rực của rừng cây đang trút lá, sắc xanh rờn của những thảm cỏ mùa thu…

Màu đá, trong một liên tưởng bất chợt, tôi nghĩ tới màu máu đã khô rồi. Hòn đảo này sinh ra từ tro than, bắt đầu sự sống từ hủy diệt nên suốt chiều dài lịch sử của mình, đôi lúc lại từ hủy diệt, Jeju hồi sinh. Ngày 3 tháng 4 năm 1948, chính quyền Nam Triều Tiên đã đưa quân đội đến Jeju tiến hành cuộc thảm sát được coi là một trong bốn cuộc thảm sát lớn nhất thế giới. 130 làng bị đốt cháy, 12.000 người được chính thức ghi tên trong nhà tưởng niệm. Nhưng người Jeju nói con số thường dân thiệt mạng lên đến 30.000, nghĩa là sự thật chỉ là một phần ba sự thật. chỉ vài phút đứng trước phần bia của một ngôi làng, tôi đếm được 109 người họ Lee. Trong những tác phẩm của giới họa sỹ đảo Jeju về cuộc thảm sát, họ vẽ những gương mặt vùi trong đá, những hình người vắt chông chênh trên đá.




Và trên nấm mộ của những em bé vô tội, đá vẫn một gam màu xám đen u uất, như những giọt nước mắt của trời đã đông đặc lại, khóc cho sự nhẫn tâm không hiểu nổi của con người. Nhưng niềm hy vọng nơi con người lại lấp lánh ngay trong nỗi thất vọng. Tôi nghĩ tới người bạn vong niên không vì đá gợi nhớ, mà vì lời ông nói trong một bữa trà nào, người viết luôn nhìn thẳng vào sự thật, phản ánh sự thật. Bài học về sự thật tôi được nghe lại ở đây, khi thông tin cuộc thảm sát đảo Jeju bị bưng bít, những nhà văn, nhà thơ của đảo đã viết, tranh đấu cho đến khi bi kịch được phơi bày. Vài người đã qua đời sau những tháng ngày bị tù đày, bạc đãi. Người kể lại câu chuyện này, tiếp tục cuộc đấu tranh này cũng là một nhà văn kiêm huấn luyện viên bóng đá. Khoát cánh tay ngắn và chắc nụi về phía biển, anh gửi lời xin lỗi về miền Trung, nơi mà người lính Nam Hàn đã gây nên những cuộc thảm sát. Anh nói về cuộc hàn gắn bằng văn học nghệ thuật, và cả bóng đá nữa, nếu có thể, giữa hai vùng đất mang nhiều nỗi đau này.



Người vẫn còn mang vết thương đã toan đi chữa vết thương cho người khác. Tôi nghĩ nghề viết và người viết cũng đơn giản vậy, chữ lành, an ủi những vết thương của người đời để làm dịu vết thương của chính mình.



Tôi rời Jeju trong cảm giác yêu lần nữa cái công việc chữ nghĩa mà tôi theo đuổi. Tôi mang theo một hareubang nhỏ. Mỗi khi nhìn bức tượng, tôi lại nhớ “bữa tiệc đá” Jeju, nhớ vẻ đẹp mạnh mẽ của sự phục sinh, vẻ đẹp mãnh liệt của sự sống, và vẻ đẹp tinh tế của nỗi buồn…


May 24, 2008

Lẻ




Bây giờ mỗi khi nghĩ về Hà Nội, tôi vẫn hay nhớ về căn phòng nhiều khói và bóng tối đó. Tôi nhớ em, kiểu em nhìn tôi, cái nhìn không bứt không bẻ được, ngay cả khi bạn tôi hôn em, hay hứng khởi dìu em theo một điệu nhạc dùng dằng trên cái sàn nhà chật, ngay khi tôi ngượng, cúi đầu quay đi vì trông thấy những trò âu yếm được trả tiền, tôi vẫn biết em đang nhìn mình chằm chằm. Cái nhìn như quen như lạ, như dò hỏi, như thân thuộc lại vừa xua đuổi, như sợ hãi, ngượng ngùng. Tôi tưởng cho đến khi ra về vẫn không giải mã được cái nhìn đó thì bạn buộc em hát. Em chọn bài “Một cõi đi về”, rằng “trong khi ta về lại nhớ ta đi…”

Giọng em ngọt, tôi nhận ra trong cách phát âm “chong”, “dzề” là miền Tây của tôi. Giống như em nhận ra tôi từ Nam ra chỉ bằng tiếng “dạ”. Tiếng nói cất lên, gây một ảo tưởng người này quen lắm, dường như cùng xóm, cùng trường cấp một với mình. Tôi nối cái nhìn của mình vào cái nhìn em.

Đó là ngày thứ chín tôi nghe lại giọng đồng hương, kể từ khi bắt đầu cuộc lang thang nhỏ trên những ngọn núi xa xôi phương Bắc. Đó là lúc tôi thèm đường chân trời xa được kẽ bằng một viền lúa chín màu vàng nhạt, thèm một tiếng nói miền Tây vẳng vào tai. Nhưng gặp em ở đây, trong tôi không vang lên một lời reo nào. Con gái xứ mình sao mà cứ theo nhau lưu lạc ? Mai tôi về nhưng em còn ở lại đến bao lâu, trong những căn phòng đầy khói và bóng tối ?

Lại nhớ người bạn làm du lịch, có lần nói một câu mà tôi cho là phũ phàng, “con gái xứ mình chịu khó giang hồ lang bạt quá, cùng khắp Việt Nam, qua tới Campuchia, Thái Lan cũng gặp, nói rặt cái giọng miền Tây. Buồn, không muốn hỏi…”. Như em, đã không nói lời nào từ khi nhận ra tôi. Chỉ nhìn vậy thôi. Khước từ niềm vui ríu ran bằng cái giọng quê nhà, như những chị gánh bán trái cây, rau cải người Huế, người Quảng vẫn thường sung sướng nói với nhau ở thềm chợ Cà Mau. Mà, tôi cũng đã hết cơn thèm. Dù ở cái nơi cách quê nhà hai ngàn cây số, một câu nói mang âm sắc thổ ngữ quê xứ không đơn thuần chỉ để nghe và hiểu, với tôi, chỉ hai chữ “… quá chừng” thôi, như lạnh quá chừng, đẹp quá chừng, là miền Tây kéo tới ngọn núi tôi đang đứng, miền Tây của những cánh đồng, dòng kinh, lục bình trôi, cây ô môi bông đỏ, tiếng bìm bịp hui hút trong những bụi dừa nước ven sông, dơi bay chập choạng trong vườn làm mấy trái ổi chín rơi xuống đất …

Và khi cất lên tiếng hát, em cũng mang ít nhiều miền Tây tới đây, trong căn phòng nhỏ có vài gã trai dáo dác ngó chừng công an bên ngoài. Một miền Tây buồn hiu với bóng tối đổ xuống vạt nước cầu ao mà em đang ngồi giặt chiếc áo phèn sau một ngày gặt lúa, với khói mẻ ung mù mù bay la đà trên những vũng nước mưa thấu qua nóc nhà… Nhưng bạn tôi, người đang ôm em trong lòng thì không nhìn thấy những hình ảnh đó, bạn chưa từng vào Nam. Giọng nói của em và những gì thuộc về ký ức em là một thế giới hoàn toàn xa lạ với bạn. Tôi có cảm giác em sẽ cô đơn lắm. Cô đơn ngay khi cất tiếng, khi những người đàn ông trong căn phòng lấy làm buồn cười vì em phát âm ngọng ngịu đôi ba chỗ, vì em “dạ” thay cho “vâng”, em “vậy hả ?” thay cho “thế ạ”…

Tôi không mô tả được chính xác về giọng nói của vùng đất, chỉ là cảm giác một kiểu thổ ngữ thô mộc, tiết tấu giản dị ít bổng trầm. Nhắm mắt để chạm tay vào giọng nói đó, tay tôi như chạm vào một hòn đất đã bắt đầu chớm khô, mềm mại mà chắc chắn, dịu dàng mà rắn rỏi … Và bức tranh tôi vẽ lại giọng nói của chính mình chỉ là lát đất cày thô, khô khốc, bọc lấy những cái rễ cây cỏ mục bên trong.

Giọng nói ít nhiều hoang dã, xa lạ. Có lần ngủ ở Hà Nội, một chỗ gần bến xe Mỹ Đình. Một khách sạn nhỏ nhiều ánh sáng nhất trên con phố Hoàng Quốc Việt. Giữa tối, tôi thấy đói, hỏi anh bảo vệ một chỗ để ăn, anh này ngó thom lom, hỏi một câu ngơ ngẩn, chị ơi, chị có phải là người Việt không. Tôi cười cười, “trời đất, dân miền Tây mà”. Bạn nghe xong, vẫn tần ngần. Câu trả lời của tôi cũng tréo ngoe, giống người bạn Lào ở Viêng Xay, một tối say rượu ngật ngà, cười khà khà, bảo, “tớ nói tiếng Việt giỏi nhưng mà tiếng…miền Nam tớ nghe không được?!”. Trong những cuộc đi xa về phương Bắc, tôi cất tiếng gọi thức ăn, người trong quán ngoái lại; tôi gọi điện thoại trên xe, hành khách chung quanh bỗng thôi gà gật, rướn lên nhìn.

Cũng phải, giọng nói của tôi, ở nơi đất quê người, rất lẻ. Nhưng tôi vẫn thích nói vì trước hết tôi cần nghe giọng của chính mình. Nó gợi lên một vùng đất mà tôi vừa chớm xa. Nó gợi lên một sự bí ẩn, tò mò đối với những người Việt chưa từng tới, gợi nỗi nhớ của những người đã đi qua. Xảy ra vài câu chuyện vài cuộc gặp gỡ. Có hôm tôi trả lời điện thoại xong, một người đàn ông bước lại gần, bảo “tôi đã từng vào Nam, lâu lắm rồi… Nghe cô nói tôi nhớ cù lao Tân Châu…”. Ông là người Ninh Bình, lưu lại trên đất của lụa Lãnh Mỹ A chỉ bảy tháng, rồi trở về nhà. Mười sáu năm rồi, ông kể, mở ti vi nghe mấy ông nông dân Nam Bộ nói chuyện mùa màng, cái kiểu “guộng (ruộng) năm nay chúng (trúng) bộn chú ơi, nhưng dzá (giá) èo ọt quá…” trong lòng lũ lượt hình ảnh của mảnh đất cù lao nằm trơ trọi trên sông Hậu. Giữa câu chuyện của mình, ông dừng lại hỏi, tôi trả lời ngập ngừng, ông lại hỏi, cuối cùng, ông ái ngại, “tôi nói hơi nhiều vì muốn nghe giọng Nam Bộ của cô…”.

Không, đây không chỉ là giọng nói của riêng tôi, mà của cái cù lao Tân Châu trong ký ức ông. Của một miền Tây xa xôi và cách trở, hoang dã và lạ lẫm, sâu thẳm. Miền Tây mà tôi lớn lên cùng vẫn có nhiều chuyện không hiểu thấu. Thí dụ như cái giọng mà ngày ngày tôi nghe người nói người hát người hò, tôi có thể dùng từ ngữ nào, hình ảnh nào, màu sắc nào để miêu tả một cách chính xác ? Thí dụ như em, tôi không biết sao em lại chọn cho mình một cuộc long đong, để giữa nơi xa xôi nào đó cất lên những giai điệu lẻ ?!

Để em, con gái miền Tây lại thuộc về ký ức Hà Nội của tôi, nằm trong ngăn kéo mang tên “ngậm ngùi”.






May 22, 2008

Ngồi ở thềm nhà...

Thềm vắng

Lâu rồi không về ngồi nơi thềm nhà
Để nhìn ba má già

Thềm xưa
hai ngàn chiều con với má ngồi bó rau,
tay chúng ta héo rã vì dầm chan trong nước
trăm buổi xế chị cùng em ngồi sàng gạo,
bụi cám bay xiên bạc trắng đuôi mày

Thềm xưa
bữa cơm trưa món ăn nào cũng mặn quắt, 
đũa vấp trên miệng chén khô
ba nghẹn nhìn nắng chảy thành sông
lúa cháy rát trên đồng

Bốn ngàn trưa con nằm co bên thềm như con chó nhỏ
ngủ và mơ giấc của riêng mình,
những chiêm bao bị cơn thèm ăn ngấu vào quay quắt
con chưa bao giờ kể ai nghe
sợ tay má khóc
mãi không búi được tóc
sợ lòng ba đau
sấp ngửa cuốc hoài giồng rau

Lâu rồi không về ngồi nơi thềm nhà
Để thương ba má già…



May 20, 2008

Chuyện buồn

Tình hình là chiều nay có mấy con chim non bị rơi khỏi tổ. Căng thẳng tìm cách cứu chúng...





Không cứu được. Và buồn...